Di tích Quốc gia năm 1986 · Tam Đại Vương Từ Đường
Lưu giữ 38 đạo sắc phong, 3 văn bia cổ, tranh lụa chân dung cổ nhất nhì Việt Nam và 4 cây muỗm Di sản nghìn tuổi, từ đường là biểu tượng ngời sáng của truyền thống hiếu học "Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh Cót".
GIỚI THIỆU CHUNG
CHÍNH ĐIỆN HẬU CUNG — CHỐN THÂM NGHIÊM THỜ TAM ĐẠI VƯƠNGKhông gian Hậu cung 5 gian gỗ lim với hệ thống bàn thờ, khám thờ, tượng đồng và tranh lụa cổ thờ phụng ba vị danh nhân kiệt xuất.TƯỢNG ĐỒNG & TRANH LỤA THÁM HOA NGUYỄN QUÝ ĐỨCTôn trí pho tượng đồng nguyên chất và bức tranh lụa cổ vẽ chân dung Thám hoa Nguyễn Quý Đức (1648 – 1720), bậc danh thần vì nước vì dân.TƯỢNG ĐỒNG HOÀNG GIÁP NGUYỄN QUÝ ÂNPho tượng đồng Quốc sư Nguyễn Quý Ân (1673 – 1722), bậc hiền tài với tài thư pháp đỉnh cao được người đời ca ngợi 'Tâm chính, bút chính'.TƯỢNG ĐỒNG THAM TỤNG NGUYỄN QUÝ KÍNHPho tượng đồng Tham tụng Nguyễn Quý Kính (1693 – 1766), Tể tướng đứng đầu bách quan hơn 20 năm, bậc tôi hiền 'Thái Sơn Bắc Đẩu'.KHO TÀNG 38 ĐẠO SẮC PHONG NGUYÊN GỐC TRIỀU LÊ — NGUYỄNBộ sưu tập 38 đạo sắc phong gốc từ năm 1715 đến năm 1924 ghi nhận công đức Tam Đại Vương được bảo tồn nguyên vẹn qua nhiều thế kỷ.
Nhà thờ họ Nguyễn Quý, tên chữ Hán là "Tam Đại Vương từ đường" (三大王祠堂 - nghĩa là Nhà thờ ba vị Đại vương), là di tích lưu niệm danh nhân và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu gắn liền với vùng đất cổ Kẻ Mỗ truyền thống. Nơi đây tôn thờ ba thế hệ liên tiếp đỗ đạt cao, giữ chức Tể tướng trụ cột triều đình Lê Trung Hưng và khi mất đều được triều đình truy phong Phúc thần: Thám hoa Nguyễn Quý Đức, Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân và Tham tụng Nguyễn Quý Kính.
Trong lịch sử khoa bảng và chế độ phong kiến Việt Nam, Nhà thờ họ Nguyễn Quý là một hiện tượng độc nhất vô nhị. Ba thế hệ ông - cha - con nối tiếp nhau đỗ đại khoa, cùng nắm giữ trọng trách rường cột quốc gia đứng đầu bách quan suốt nhiều thập kỷ, thanh liêm chính trực, hết lòng phụng sự xã tắc và chăm lo đời sống muôn dân.
Không chỉ là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và phụng thờ tiên tổ của dòng họ, di tích còn lưu giữ khối lượng di vật đồ sộ vô giá: kho tàng 38 đạo sắc phong nguyên gốc các triều đại phong kiến, 03 tấm bia đá cổ ghi chép sự nghiệp hiển hách, cặp tranh lụa cổ vẽ chân dung danh nhân thế kỷ XVII - XVIII hiếm có nhất Việt Nam, cùng 04 cây muỗm cổ thụ hàng trăm năm tuổi được vinh danh là Cây Di sản Việt Nam.
Với những giá trị đặc biệt nổi bật về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, Nhà thờ họ Nguyễn Quý đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 235-VH/QĐ ngày 12/12/1986, khẳng định vị thế của di tích trong kho tàng di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
Tên di tích
Nhà thờ họ Nguyễn Quý (Tam Đại Vương từ đường - 三大王祠堂)
Tên gọi khác
Từ đường họ Nguyễn Quý · Nhà thờ Tam Đại Vương
Địa chỉ hiện nay
Tổ dân phố Đình / Quang Tiến, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội
Địa danh lịch sử
Làng Thiên Mỗ (Kẻ Mỗ), xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Loại hình di tích
Di tích Lịch sử - Kiến trúc Nghệ thuật - Lưu niệm Danh nhân
Xếp hạng
Di tích Quốc gia năm 1986 (QĐ số 235-VH/QĐ ngày 12/12/1986 của Bộ Văn hóa)
Đối tượng thờ phụng
Tam vị Đại vương: Thám hoa Nguyễn Quý Đức · Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân · Tham tụng Nguyễn Quý Kính
Cây Di sản Việt Nam
04 cây Muỗm cổ thụ trong khuôn viên (vinh danh ngày 21/6/2013)
Di vật tiêu biểu
38 đạo sắc phong (1715–1924) · Cặp tranh lụa cổ TK XVII–XVIII · 3 pho tượng đồng · Cỗ xe Ngọc Lộ độc bản · 3 bia đá trụ
Đơn vị quản lý
UBND phường Tây Mỗ · Ban Quản lý Di tích & Trưởng tộc dòng họ Nguyễn Quý (hậu duệ đời 16)
Theo các kết quả nghiên cứu khảo cổ học và địa chất học dưới lòng sông Nhuệ, vùng Đại Mỗ (xưa gọi là Kẻ Mỗ hay Thiện Mỗ/Thiên Mỗ) đã phát hiện nhiều mảnh gốm in hoa văn ô vuông, gạch cổ cỡ lớn hoa văn ô trám lồng có niên đại cách đây hơn 2.000 năm, khẳng định cư dân Việt cổ đã sinh sống đông đúc từ thời Đông Sơn - Bắc Thuộc. Danh tiếng khoa bảng nơi đây từ xưa đã được người dân Thăng Long ngợi ca qua câu ca truyền tụng: "Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh Cót".
Tuy chưa tìm thấy văn bản ghi niên đại khởi dựng nguyên gốc, nhưng dựa trên văn bia cổ và bản "Công ước luận biên", năm Bảo Thái thứ 3 (1722), dân xã và các thôn đã quy tụ về từ đường để tế lễ Thám hoa Nguyễn Quý Đức (qua đời năm 1720). Tấm bia đá sớm nhất tại từ đường dựng năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) mô tả kiến trúc nhà thờ lúc đó đã rất nguy nga, tráng lệ. Qua đó khẳng định khu từ đường được khởi dựng trong khoảng thời gian từ năm 1720 đến năm 1722 trên nền ngôi nhà hậu cung sơ khởi hình thành từ khoảng năm 1670.
Trải qua gần 300 năm lịch sử, khu từ đường đã trải qua các đợt đại trùng tu, tôn tạo quan trọng vào các năm 1747, 1766, 1827 (dựng bia đá trụ thứ ba) và đặc biệt là đợt đại trùng tu quy mô lớn vào năm Canh Thân (1920) dưới triều vua Khải Định, định hình toàn bộ vóc dáng kiến trúc khung gỗ lim bề thế còn bảo tồn nguyên vẹn đến ngày nay.
Ngày 12/12/1986, Bộ Văn hóa chính thức ban hành Quyết định số 235-VH/QĐ xếp hạng Nhà thờ họ Nguyễn Quý là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Đến các năm 1992 và 2020, chính quyền địa phương cùng dòng họ tiếp tục trùng tu, kè đá hồ bán nguyệt, chỉnh trang nghi môn, tả hữu mạc và cảnh quan cây xanh, gìn giữ chốn linh từ tôn nghiêm của vùng đất khoa bảng Tây Mỗ.
DÒNG THỜI GIAN DI TÍCH
Thế kỷ XVII (~1670)Khởi dựng ngôi nhà hậu cung ban đầu làm nơi sinh hoạt và thờ cúng gia tộc họ Nguyễn Quý.
Năm 1717Thám hoa Nguyễn Quý Đức hưu trí, triều đình ban tặng cỗ xe công vụ Ngọc Lộ và 30 mẫu ruộng lộc.
Năm 1720 - 1722Nguyễn Quý Đức qua đời (1720); dân xã và các thôn lập từ đường quy mô tế lễ (Công ước luận biên 1722).
Năm 1736 (Vĩnh Hựu 2)Dựng tấm bia đá gia phả đầu tiên 'Thiên Mỗ Thám Hoa Quốc lão... gia phả ký' ca ngợi sự nghiệp Thám hoa.
Năm 1747 & 1766Các đợt đại tu bổ, mở rộng quy mô từ đường sau khi Tham tụng Nguyễn Quý Kính qua đời.
Năm 1827 (Minh Mệnh 8)Hoàn thiện quy mô kiến trúc khu từ đường và dựng tấm bia đá trụ thứ ba.
Năm 1920 (Canh Thân)Đại trùng tu toàn bộ khung gỗ lim nhà tiền tế và hậu cung dưới triều vua Khải Định.
12/12/1986Bộ Văn hóa chính thức ban hành Quyết định số 235-VH/QĐ xếp hạng Di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
21/06/2013Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam vinh danh 04 cây Muỗm cổ thụ là Cây Di sản Việt Nam.
Năm 1992 & 2020Tu bổ, kè đá hồ bán nguyệt, chỉnh trang nghi môn, tả hữu mạc và cảnh quan khuôn viên di tích.
Minh chứng sinh động cho vai trò của phả tộc song hành cùng chính sử, nơi tôn vinh ba vị đại thần kiệt xuất triều Lê Trung Hưng có công lớn trong chấn chỉnh triều chính và ngoại giao hòa hiếu.
Tam vị Đại vương họ Nguyễn Quý có công lao đặc biệt to lớn trong việc phò tá vương triều, chấn hưng triều chính, ngoại giao hòa hiếu với nhà Thanh, đúc 20 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, mở mang nền giáo dục nước nhà và lập chợ Khánh Nguyên (chợ Mỗ) giúp nhân dân an cư lạc nghiệp.
Phương ngôn dân gian đương thời truyền tụng: "Tể tướng Quý Đức thiên hạ hữu túc" (Tể tướng Quý Đức làm quan, muôn dân được an vui dưỡng sức thái bình), khắc họa đậm nét hình ảnh những bậc tôi hiền vì nước vì dân.
GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ TƯ LIỆU HÁN NÔM
Di tích sở hữu kho tàng tư liệu Hán Nôm đồ sộ với 38 đạo sắc phong, 3 văn bia cổ, gia phả viết trên giấy dó và hệ thống hoành phi câu đối cổ tinh xảo.
Hệ thống 38 đạo sắc phong nguyên gốc do các triều vua thời Lê Trung Hưng (12 đạo) và thời Nguyễn (26 đạo) ban tặng là nguồn sử liệu gốc cực kỳ giá trị để nghiên cứu về chế độ phong thưởng và phẩm hàm quan lại phong kiến.
Ba tấm bia đá cổ (dựng các năm 1736, 1746, 1827) cùng 16 đôi câu đối chữ Hán chạm khắc chau chuốt ca ngợi truyền thống: "Phát khoa, kế khoa... Xuất tướng, nhập tướng", đúc kết truyền thống hiếu học rực rỡ của gia tộc.
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC VÀ NGHỆ THUẬT
Bố cục quy hoạch chặt chẽ theo trục thần đạo, kết cấu chữ Nhị kết hợp hài hòa giữa khung gỗ lim cổ truyền và cảnh quan thiên nhiên sơn thủy hữu tình.
Công trình kết hợp nhuần nhuyễn giữa bộ vì gỗ lim chạm khắc rồng hóa lá, hổ phù thời Nguyễn với các cột đá hiên hình bát giác có từ buổi đầu khởi dựng thời Lê, tạo nên nét độc đáo riêng biệt.
Không gian phong thủy đắc địa với hồ bán nguyệt tụ thủy phía trước, bình phong cuốn thư ngăn tà khí và 4 cây muỗm cổ thụ tỏa bóng mát che chở cho chốn từ đường trang nghiêm.
BẢO VẬT VÀ HIỆN VẬT ĐỘC BẢN
Sở hữu cỗ xe công vụ Ngọc Lộ độc bản triều Lê, cặp tranh lụa cổ vẽ chân dung sớm nhất Việt Nam và bộ ba pho tượng đồng danh nhân đúc nguyên chất.
Cỗ xe Ngọc Lộ do triều đình ban tặng Thám hoa Nguyễn Quý Đức năm 1717 khi về trí sĩ là cỗ xe công vụ độc nhất vô nhị còn bảo lưu ở nước ta, hiện được lưu giữ trang trọng tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
Hai bức tranh lụa cổ vẽ chân dung Thám hoa Nguyễn Quý Đức (1717-1720) và Tham tụng Nguyễn Quý Kính (1764 bởi thợ Tây Dương) là bảo vật mỹ thuật vô giá, cùng 3 pho tượng đồng đúc nguyên chất tôn trí tại Hậu cung.
GIÁ TRỊ GIÁO DỤC VÀ KHUYẾN HỌC
Biểu tượng rực rỡ của truyền thống hiếu học, ngọn cờ đầu trong phong trào khuyến học khuyến tài của vùng đất văn hiến Tây Mỗ.
Hằng năm vào dịp giỗ Tổ mùng 9 tháng Giêng, dòng họ tổ chức lễ khen thưởng trang trọng cho hàng trăm học sinh, sinh viên đỗ đạt, nối tiếp truyền thống khoa bảng vẻ vang.
Bức hoành gỗ cẩn xà cừ "Chiêm Bái Tổ Đường" nhắc nhở hậu thế: "Nhớ gốc về đây bái tổ đường... Dù bể dâu cho thay đổi cuộc, Danh lưu sử sách mãi còn gương".
THÁM HOA QUỐC LÃO THÁI TỂ NGUYỄN QUÝ ĐỨC (1648 – 1720)
Húy Tộ, tự Thế Nhân, hiệu Đường Hiên, sinh ngày 19/3/1648 tại làng Thiên Mỗ. Đỗ đầu Thám hoa khoa Bính Thìn (1676) đời vua Lê Hy Tông khi mới 28 tuổi.
Sự nghiệp lừng lẫy: Từng giữ chức Đốc đồng Cao Bằng (1680) dẹp yên biên giới; Chánh sứ sang nhà Thanh (1691); Tế tửu Quốc Tử Giám (1708); Binh bộ, Lại bộ Thượng thư; Thiếu bảo Liên Đường hầu. Năm 1716 chỉ đạo trùng tu điện Đại Thành và năm 1717 đứng ra dựng 20 tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu.
Đức độ thương dân: Khi trí sĩ năm 1717, triều đình ban tặng xe Ngọc Lộ và 30 mẫu ruộng lộc. Ông dành 10 mẫu tặng dân làng và 4 mẫu lập chợ Khánh Nguyên (chợ Mỗ ngày nay). Dân gian ca tụng: "Tể tướng Quý Đức thiên hạ hữu túc". Khi mất được truy tặng Thái tể Trung phong Đại Vương, tôn làm Phúc thần.
HOÀNG GIÁP QUỐC SƯ NGUYỄN QUÝ ÂN (1673 – 1722)
Con trưởng của Thám hoa Nguyễn Quý Đức, sinh ngày 12/9/1673. Đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi (1715) triều vua Lê Dụ Tông, nổi tiếng với nghệ thuật thư pháp đỉnh cao "Tâm chính, bút chính".
Tài năng & Khí tiết: Giữ chức Quốc sư trực tiếp giảng sách giáo dưỡng Thế tử, biên soạn tập sách "Thiền tứ và Tư thư". Ông là bậc danh thần thanh liêm, chính trực, không a dua thói tục, hết lòng phụng sự vương triều.
Ân sủng của triều đình: Khi ông mất năm 50 tuổi (1722), vua ban 360.000 quan tiền an táng, ban tên thụy Ôn Cẩn. Sau truy phong Diên Quận công, Công bộ Thượng thư, Thiếu bảo và phong Trung thuần đoan chính Đại vương, được nhân dân Mễ Trì và Đại Mỗ tôn thờ làm Thành hoàng làng.
THAM TỤNG THƯỢNG THƯ KÍNH QUẬN CÔNG NGUYỄN QUÝ KÍNH (1693 – 1766)
Cháu đích tôn của Thám hoa Nguyễn Quý Đức, sinh ngày 16/2/1693. Nổi tiếng hào mạo, chí khí khác thường, giữ chức Tể tướng đứng đầu bách quan suốt hơn 20 năm thời vua Lê - chúa Trịnh.
Công trạng chấn hưng triều chính: Năm Vĩnh Hựu 5 (1739), ông cùng em là Nguyễn Quý Thường dẹp yên mưu loạn nội giám chuyên quyền chỉ trong 10 ngày, được phong Công thần Suy Trung Dực Vận và định niên hiệu Cảnh Hưng mở ra giai đoạn thái bình.
Bậc trụ cột xã tắc: Giỏi kinh điển, tinh thông thơ quốc âm, được vua khen là bậc "Lục địa tiên" và hiển ban 8 chữ vàng "Thái Sơn Bắc Đẩu - Kiều Mộc Thế Thần". Khi mất năm 1766 (thọ 74 tuổi), triều đình cử 500 cơ binh giúp việc tang, ban 1.000 quan tiền, gia phong Thượng đẳng Phúc thần.
QUY HOẠCH TRỤC THẦN ĐẠO VÀ CÁC HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH
Từ đường tọa lạc trên gò đất cao ráo trung tâm làng, quay hướng Nam đón gió mát lành, được quy hoạch đăng đối chặt chẽ theo thuật phong thủy truyền thống.
Nghi môn tứ trụ & Đôi chó đá chầu
Gồm 4 trụ biểu gạch lớn đế vuông 1,2m. Đỉnh đắp 4 chim phượng chụm đuôi hình trái giành, bên dưới đắp 4 đầu rồng và ô lồng đèn chạm Tứ linh, dây lá chùm nho. Hai cổng phụ 2 tầng 8 mái chồng diêm. Chân trụ biểu đặt đôi chó đá đeo chuông chầu trên bệ gạch bảo vệ chốn linh thiêng.
Bình phong cuốn thư & Hồ bán nguyệt tụ thủy
Bức bình phong cuốn thư lớn (cao 210cm, rộng 310cm, dày 30cm) chạm mặt trời, mặt hổ phù và diềm lá đề ngăn cách không gian tâm linh. Phía trước là hồ bán nguyệt tụ thủy sinh tài, tạo cảnh quan sơn thủy hữu tình và điều hòa vi khí hậu.
Hai dãy Tả mạc & Hữu mạc (cột đá bát giác)
Mỗi dãy gồm 5 gian, kết cấu vì kèo quá giang kẻ suốt vững chãi. Điểm đặc sắc là hệ thống hàng cột đá hiên hình bát giác cổ kính được chế tác từ buổi đầu khởi dựng thế kỷ XVIII.
Nhà Tiền tế (Đại bái) 7 gian gỗ lim
Công trình gồm 7 gian 2 dĩ bằng gỗ lim bề thế, mái đầu hồi bít đốc tay ngai, 4 hàng chân cột. Cột cái kê trên chân tảng đá cổ bồng chu vi 148cm. Bộ vì thượng chồng rường giá chiêng, hạ bẩy hiên chạm rồng hóa lá, hổ phù sắc nét.
Nhà Hậu cung 5 gian mặt bằng chữ Nhị
Gồm 5 gian gỗ lim bố trí song song với Tiền tế tạo thành mặt bằng chữ Nhị (二), phân cách bởi khoảng sân hẹp 120cm. Đây là chốn thâm nghiêm đặt các khám thờ, long ngai, bài vị, tượng đồng và 38 đạo sắc phong của Tam Đại Vương.
NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC VÀ KỸ THUẬT CHẾ TÁC GỖ - ĐÁ
Giá trị mỹ thuật đặc sắc của di tích thể hiện qua sự kết hợp tinh xảo giữa nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian Bắc Bộ và nghệ thuật đục đẽo đá truyền thống.
Bộ vì rường giá chiêng & bẩy hiên chạm rồng hóa
Các nghệ nhân xưa đã khéo léo kết hợp kỹ thuật chạm bong kênh, chạm lộng trên các cấu kiện bẩy hiên, con rường với đề tài rồng hóa cúc, rồng hóa trúc và hoa lá cách điệu mềm mại.
Chân tảng đá cổ bồng và cột đá bát giác
Hệ thống chân tảng đá xanh dáng cổ bồng đục gờ chỉ tỉ mỉ kê chân cột gỗ lim chống ẩm, cùng các cột đá hiên bát giác nguyên khối thể hiện tài hoa chế tác đá của nghệ nhân xứ Đoài.
Nghệ thuật sơn son thếp vàng trên đồ tế tự
Hệ thống khám thờ, long ngai, hoành phi, câu đối và kiệu bát cống lưu giữ kỹ thuật thếp vàng truyền thống rực rỡ, tôn lên vẻ uy nghiêm, tôn kính của chốn từ đường.
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Bộ sưu tập hình ảnh kiến trúc di tích
Nhấp chọn ảnh để xem kích thước lớn kèm chú thích khảo sát chi tiết.
Cặp tranh lụa cổ chân dung danh nhân thế kỷ XVII - XVIII
Hai bức tranh lụa vẽ truyền thần Thám hoa Nguyễn Quý Đức (1717-1720) và Tham tụng Nguyễn Quý Kính (vẽ năm 1764 bởi họa sĩ phương Tây). Đây là cặp tranh lụa thờ cổ có niên đại sớm nhất còn bảo lưu ở Việt Nam.
Kho tàng 38 đạo sắc phong nguyên gốc triều Lê và triều Nguyễn
Hệ thống 38 đạo sắc phong gốc gồm 12 sắc phong thời Lê và 26 sắc phong thời Nguyễn phong tặng cho Tam Đại Vương. Đạo sớm nhất năm Vĩnh Thịnh 11 (1715), muộn nhất năm Khải Định 9 (1924).
Ba pho tượng đồng nguyên chất Tam Đại Vương
Được đúc bằng đồng nguyên chất từ chương trình 'Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân' do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp dòng họ thực hiện (2001 - 2018), tôn trí trang nghiêm tại Hậu cung.
Bản dập Bia Tiến sĩ Thám hoa Nguyễn Quý Đức tại Văn Miếu (1717)
Văn bia Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1676) dựng ngày 2 tháng 3 năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717) tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, ghi nhận Thám hoa Nguyễn Quý Đức đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh.
Khám thờ gỗ chạm hoa văn chữ triện và bài vị cổ thế kỷ XVIII
Khám thờ bằng gỗ quý chế tác tinh xảo với các đường diềm hoa văn chữ triện, rồng mây cổ kính và các bài vị thờ phụng các thế hệ tiền nhân dòng họ Nguyễn Quý.
Bức biển gỗ cẩn xà cừ 'Chiêm Bái Tổ Đường' (1971)
Di vật do con cháu phụng lập năm Tân Hợi (1971) ghi khắc bài thơ ca ngợi truyền thống 'Mỗ Sơn bát ngát cảnh danh hương / Hưng bang sự nghiệp bia xanh đá' của dòng họ.
Cỗ xe công vụ Ngọc Lộ độc bản triều Lê (1717)
Cỗ xe công vụ triều đình do vua ban tặng Thám hoa Nguyễn Quý Đức khi ông hưu trí năm 1717. Đây là cỗ xe công vụ độc bản duy nhất ở Việt Nam (hiện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia mượn bảo quản và trưng bày).
Quần thể 04 cây Muỗm cổ thụ — Cây Di sản Việt Nam (2013)
Bốn cây Muỗm cổ thụ hàng trăm năm tuổi trong khuôn viên từ đường được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam chính thức công nhận và vinh danh là Cây Di sản Việt Nam ngày 21/6/2013.
Khám phá thêm tư liệu và mô phỏng hiện vật
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
Cặp tranh lụa cổ chân dung danh nhân thế kỷ XVII - XVIII
Hai bức tranh lụa vẽ truyền thần Thám hoa Nguyễn Quý Đức (1717-1720) và Tham tụng Nguyễn Quý Kính (vẽ năm 1764 bởi họa sĩ phương Tây). Đây là cặp tranh lụa thờ cổ có niên đại sớm nhất còn bảo lưu ở Việt Nam.
Lễ hội từ đường họ Nguyễn Quý được tổ chức trang nghiêm như một lễ hội đình làng cổ truyền vào dịp đầu xuân năm mới, kết nối tình đoàn kết gia tộc và nhân dân trong vùng.
Ngày 9 tháng Giêng âm lịch: Ngày giỗ Tổ họ Nguyễn Quý, con cháu nội ngoại tập trung trước từ đường họp bàn việc gia tộc, tế lễ tiên tổ.
Ngày 10 - 12 tháng Giêng: Chính hội từ đường kéo dài cùng Lễ hội Đình Đại Mỗ - nơi phối thờ Tam Đại Vương làm Thành hoàng làng.
Hội thi kéo lửa đồ xôi độc đáo: Mỗi đội 3 người dùng thanh xoan khô, rơm và thanh giang cọ xát tạo lửa để đồ cỗ xôi trắng dâng cúng Tổ.
Trò chơi dân gian truyền thống: Đấu vật dân tộc, chọi gà, chọi chim họa mi, cờ người và hát ca trù (ả đào).
Lễ biểu dương khuyến học khuyến tài: Trao học bổng cho con em dòng họ đỗ đạt cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế.
Tam đại Tể tướng độc nhất vô nhị: Ba thế hệ liên tiếp (Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân, Nguyễn Quý Kính) đều làm Tể tướng và đều được phong Phúc thần — hiện tượng hiếm có nhất trong lịch sử Việt Nam.
Cỗ xe công vụ Ngọc Lộ độc bản: Xe do triều đình ban tặng Thám hoa Nguyễn Quý Đức năm 1717 là cỗ xe công vụ triều đình duy nhất còn bảo lưu ở nước ta (hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
Cặp tranh lụa cổ sớm nhất Việt Nam: Hai bức tranh lụa vẽ chân dung Nguyễn Quý Đức và Nguyễn Quý Kính (vẽ năm 1764 bởi họa sĩ phương Tây) là cặp tranh lụa thờ cổ ra đời sớm nhất còn tồn tại.
Tục kéo lửa đồ xôi hiếm có: Hội thi lấy lửa đồ xôi bằng cách cọ xát thanh xoan khô và cật giang tạo lửa dâng xôi cúng Tổ là nét văn hóa dân gian độc đáo của dòng họ.
Kho tàng 38 sắc phong nguyên gốc: Di tích bảo lưu trọn vẹn 38 đạo sắc phong của các triều đại Lê và Nguyễn phong tặng cho Tam Đại Vương suốt từ năm 1715 đến 1924.
THƯ VIỆN SỐ DI TÍCH (DIGITAL LIBRARY)
Nhằm phục vụ công tác bảo tồn di sản bền vững và đưa di tích lên không gian số, Nhà thờ họ Nguyễn Quý tích hợp hệ thống dữ liệu số hóa gồm: ảnh chất lượng cao toàn cảnh kiến trúc Tiền tế và Hậu cung; kho tư liệu quét số hóa 38 đạo sắc phong nguyên gốc và 3 bia đá cổ 1736–1827 kèm bản dịch nghĩa; cùng hệ thống mã QR tra cứu thuyết minh tự động phục vụ du khách và con cháu muôn phương.
THÔNG TIN THAM QUAN NHÀ THỜ HỌ NGUYỄN QUÝ
Địa điểm & Thời gian
Địa chỉ: Tổ dân phố Đình / Quang Tiến, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Thời gian lễ hội: Mở cửa đón tiếp nhân dân, du khách và con cháu dòng họ hằng ngày. Dịp cao điểm: Giỗ Tổ mùng 9 tháng Giêng và Hội xuân từ mùng 10 đến 12 tháng Giêng âm lịch.
Hướng dẫn tham quan
Giữ gìn sự trang nghiêm nơi thờ tự, trang phục lịch sự, chỉnh tề khi vào khuôn viên từ đường.
Không tự ý di chuyển, chạm vào hiện vật, cổ vật, bia đá và kho tàng sắc phong cổ.
Thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn vệ sinh môi trường và bảo vệ 4 cây Muỗm Di sản.
Tuân thủ sự hướng dẫn của Ban Quản lý Di tích và đại diện dòng họ khi tham quan, dâng hương.
Khám phá số & Quản lý
Quét mã QR Code đặt tại cổng nghi môn và nhà tiền tế để nghe thuyết minh tự động và tra cứu thư viện số.
Đơn vị quản lý: UBND phường Tây Mỗ & Ban Quản lý Di tích dòng họ Nguyễn Quý (Trưởng tộc đời thứ 16).