Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia · Làng cổ Ba Lật
Bảo tồn nguyên vẹn bố cục chữ Nhị truyền thống gồm Đại đình 5 gian 2 chái và Hậu cung 5 gian, cùng bộ đòn kiệu quý hiếm thời Lê Trung Hưng, 14 đạo sắc phong triều Nguyễn và quần thể Đền Sòng Sơn phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh liền kề.
GIỚI THIỆU CHUNG
TOÀN CẢNH TÒA ĐẠI ĐÌNH & SÂN GẠCH BÁT TRÀNGTòa Đại đình 5 gian 2 chái xây dựng kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta rêu phong cổ kính.GIẾNG ĐÌNH TRÒN & CẢNH QUAN PHONG THỦYGiếng đình hình tròn tụ thủy sinh khí, kết hợp bức bình phong đắp nổi tạo nên phong thủy tiền án vững chắc.BÌNH PHONG MÃNH HỔ HẠ SƠN ĐẮP NỔIBức bình phong đắp nổi hình tượng hổ phù và mãnh hổ hạ sơn tinh xảo ngăn chặn tà khí chốn linh thiêng.GIAN CHÍNH ĐIỆN PHỤNG THỜ THÀNH HOÀNGKhông gian thờ tự thâm nghiêm với ngai vàng, bài vị cổ và hoành phi câu đối sơn son thếp vàng rực rỡ.ĐỀN SÒNG SƠN PHỤNG THỜ THÁNH MẪU LIỄU HẠNHĐền Sòng Sơn lưỡng chỉ kề bên đình phụng thờ Tam tòa Thánh Mẫu mang lại bình an, phúc lộc cho nhân dân.
Đình Phú Thứ là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của làng Phú Thứ (tên cổ là Ba Lật), thuộc phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội. Nằm bên dòng ngòi Tùng Khê và dòng sông Nhuệ cổ kính, vùng đất Mỗ cổ này đã có dấu ấn cư trú của người Việt cổ từ 3.000 - 4.000 năm trước với truyền thống hiếu học và làng nghề thủ công giọt trang kim, thợ thiếc trứ danh.
Cụm di tích Đình - Đền Phú Thứ tạo nên một quần thể tâm linh đặc sắc hiếm có. Khởi nguyên từ thời cổ đại thờ Thủy Hải Long Vương (Đức Thánh Cả) cầu mong mưa thuận gió hòa và Nữ tướng Ả Lã Nàng Đê thời Hai Bà Trưng, đến thời Lê Trung Hưng đình được phối thờ thêm Tam vị Đại vương họ Nguyễn Quý (Thám hoa Nguyễn Quý Đức, Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân, Tham tụng Nguyễn Quý Kính). Sát bên đình là Đền Sòng Sơn (Sòng Sơn lưỡng chỉ) phụng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), đình và đền Phú Thứ là căn cứ hoạt động bí mật, điểm tập kết liên lạc kiên cường của lực lượng du kích và cán bộ cách mạng xã Tây Mỗ, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp giải phóng quê hương.
Với những giá trị độc đáo về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, cụm di tích Đình - Đền Phú Thứ đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 188-QĐ/BT ngày 12/3/1995.
Địa chỉ
Tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội
Khởi dựng
Thời cổ đại, thời Lê Trung Hưng (TK XVII - XVIII) & thời Nguyễn
Xếp hạng
Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia (QĐ số 188-QĐ/BT ngày 12/3/1995)
Bố cục
Kiến trúc chữ Nhị (二) gồm Đại đình 5 gian & Hậu cung 5 gian
Thờ phụng
Thủy Hải Long Vương, Ả Lã Nàng Đê, Tam vị Đại vương họ Nguyễn Quý, Mẫu Liễu Hạnh
Di vật tiêu biểu
Bộ đòn kiệu Lê Trung Hưng, 14 đạo sắc phong, 5 cỗ long ngai bài vị cổ
Làng Phú Thứ mang tên cổ là Ba Lật, một vùng đất cổ nằm ven ngòi Tùng Khê và sông Nhuệ, thuộc vùng Mỗ nổi danh từ thời các vua Hùng. Các phát hiện khảo cổ học xung quanh khu vực đã tìm thấy di chỉ cư trú của người Việt cổ cách ngày nay 3.000 - 4.000 năm. Người dân Phú Thứ từ xưa đã nổi tiếng cần cù, tài hoa với các nghề thủ công truyền thống như làm chỉ, giọt trang kim và thợ thiếc. Đôi câu đối cổ ghi trên cổng làng vẫn luôn là niềm tự hào của cư dân địa phương: 'Sơn thanh thủy tú Từ Liêm địa / Tài phụ nhân khang Phú Thứ thiên'.
Đình Phú Thứ được khởi dựng từ rất sớm để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng Thành hoàng làng. Trong giai đoạn khởi nguyên, đình thờ vị thủy thần Thủy Hải Long Vương (Đức Thánh Cả) thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa của cư dân nông nghiệp lúa nước, kết hợp phụng thờ Nữ tướng Ả Lã Nàng Đê - vị anh hùng dân tộc có công phò Hai Bà Trưng đánh đuổi quân xâm lược Đông Hán.
Đến thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII - XVIII), sau khi ba vị danh nhân kiệt xuất của dòng họ Nguyễn Quý ở làng Đại Mỗ là Thám hoa Nguyễn Quý Đức, Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân và Tham tụng Nguyễn Quý Kính qua đời và được triều đình truy phong Phúc thần, nhân dân Phú Thứ đã rước bài vị ba ông vào phối thờ tại đình để tri ân công đức to lớn đối với dân, với nước.
Song song với đình, Đền Phú Thứ (Đền Sòng Sơn / Sòng Sơn lưỡng chỉ) được khởi dựng để phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh - vị Thánh Mẫu đứng đầu hệ thống thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của người Việt, phản ánh sự lan tỏa sâu rộng của tín ngưỡng thờ Mẫu từ thời Lê - Nguyễn.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), cụm di tích Đình - Đền Phú Thứ trở thành địa điểm hoạt động bí mật của lực lượng du kích, nơi hội họp và liên lạc quan trọng của các tổ chức cách mạng xã Tây Mỗ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
DÒNG THỜI GIAN LỊCH SỬ
Thời cổ đại - Hùng VươngCư dân cổ khai phá vùng đất Ba Lật (Phú Thứ) ven ngòi Tùng Khê, lập đền thờ phụng Thủy Hải Long Vương cầu mưa thuận gió hòa.
Năm 40 - 43Nữ tướng Ả Lã Nàng Đê phò Hai Bà Trưng dấy binh đánh giặc Hán; nhân dân Phú Thứ lập bài vị phụng thờ làm Thành hoàng hộ quốc.
Thế kỷ XVII - XVIIIĐình phối thờ Tam vị Đại vương dòng họ Nguyễn Quý; khởi dựng Đền Sòng Sơn phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh; chế tác bộ đòn kiệu rước thần thời Lê Trung Hưng.
Thời Nguyễn (TK XIX - XX)Đình và đền được các triều vua ban tặng 14 đạo sắc phong; đúc chuông đền, dựng bia đá và trùng tu khang trang các hạng mục công trình.
1946 - 1954Cụm di tích là căn cứ bí mật, trạm liên lạc an toàn của lực lượng du kích và tổ chức cán bộ cách mạng xã Tây Mỗ trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
12/03/1995Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 188-QĐ/BT chính thức xếp hạng cụm di tích Đình - Đền Phú Thứ là Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia.
Hiện nayDi tích được bảo tồn nguyên vẹn kiến trúc gỗ lim cổ truyền, đẩy mạnh công tác số hóa di sản, quét mã QR thông minh phục vụ nhân dân và du khách thập phương.
Minh chứng sinh động cho tiến trình cư trú hàng ngàn năm của làng Ba Lật - Phú Thứ, đồng thời là địa chỉ đỏ cách mạng kiên cường trong kháng chiến chống Pháp.
Di tích phản ánh bề dày lịch sử khai phá và định cư liên tục qua các thời kỳ, nơi hội tụ đạo lý Uống nước nhớ nguồn qua việc phối thờ các vị Thủy thần khai sáng, Nữ tướng chống giặc ngoại xâm và Tam vị Đại vương dòng họ danh gia khoa bảng Nguyễn Quý.
Trong giai đoạn 1946 - 1954, đình và đền là cơ sở bí mật che chở cán bộ, điểm cất giấu tài liệu và trạm liên lạc trọng yếu của du kích Tây Mỗ, ghi dấu son hào hùng trong lịch sử cách mạng địa phương.
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT VÀ ĐIÊU KHẮC GỖ
Bảo tồn nguyên vẹn bố cục chữ Nhị truyền thống Bắc Bộ cùng nghệ thuật chạm khắc gỗ lim tinh mỹ thời Lê - Nguyễn.
Đình Phú Thứ gồm Đại đình 5 gian 2 chái và Hậu cung 5 gian chạy song song. Bộ vì kèo lim 'chồng rường giá chiêng hạ bẩy' tạo nên không gian mở rộng rãi, bề thế và thâm nghiêm.
Nghệ thuật chạm khắc nổi trên cốn mê, con rường, bẩy hiên với các đề tài rồng cuốn thủy, hổ phù ngậm chữ Thọ, phượng ngậm hoa và hoa lá cách điệu thể hiện kỹ thuật điêu khắc gỗ đỉnh cao của nghệ nhân làng Mỗ xưa.
GIÁ TRỊ KHO TÀNG DI VẬT VÀ CỔ VẬT ĐỘC BẢN
Lưu giữ bộ đòn kiệu rước thời Lê Trung Hưng hiếm có, 14 đạo sắc phong triều Nguyễn và 5 cỗ long ngai bài vị cổ thế kỷ XVIII - XIX.
Đặc biệt quý hiếm là bộ đòn kiệu rước thần có niên đại từ thế kỷ XVII - XVIII thời Lê Trung Hưng bằng gỗ sơn son thếp vàng chạm trổ rồng mây - hiện vật mỹ thuật gỗ cổ vô giá còn nguyên vẹn.
Kho tàng di vật còn gồm 14 đạo sắc phong triều Nguyễn phong tặng chư vị thần linh, 5 cỗ long ngai bài vị chạm rồng ngậm ngọc, mũ thờ Thành hoàng nạm ngọc, đại tự cổ và tấm bia đá thời Nguyễn ghi việc thờ Hậu.
GIÁ TRỊ TÂM LINH VÀ TÍN NGƯỠNG ĐA DẠNG
Sự hòa quyện độc đáo giữa tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng bảo trợ non sông và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ hướng thiện.
Sự kết hợp giữa Đình Phú Thứ thờ Thần và Đền Sòng Sơn phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh tạo nên một quần thể tín ngưỡng dân gian trọn vẹn, đáp ứng nhu cầu tâm linh phong phú của cư dân nông nghiệp lúa nước và thợ thủ công.
Lễ hội truyền thống tháng Hai âm lịch với nghi thức rước kiệu thánh, tế nam quan, tế nữ quan Đền Sòng Sơn là dịp gắn kết cộng đồng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của quê hương.
Vị thủy thần tối linh cai quản nguồn nước, biểu tượng cho sức mạnh thiên nhiên che chở nghề nông lúa nước và ban phúc mưa thuận gió hòa cho muôn dân.
Thủy Hải Long Vương được nhân dân làng Ba Lật - Phú Thứ tôn kính phụng thờ từ thuở khai hoang lập ấp bên bờ ngòi Tùng Khê, gắn liền với ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp về thời tiết thuận lợi, mùa màng tươi tốt.
Ngài được các triều đại phong kiến ban tặng nhiều sắc phong Thượng đẳng thần, là vị Thành hoàng đệ nhất tôn nghiêm ngự tại chính điện đình làng.
NỮ TƯỚNG Ả LÃ NÀNG ĐÊ (THƯỢNG ĐẲNG PHÚC THẦN)
Nữ tướng kiệt xuất thời Hai Bà Trưng, con gái Tể tướng Lữ Gia, có công chiêu mộ nghĩa binh đánh đuổi quân xâm lược Đông Hán.
Khi Mã Viện đem quân xâm lược, bà cùng Hai Bà Trưng kiên cường chiến đấu tại Lãng Bạc, Cấm Khê và tuẫn tiết trên sông Hát để giữ trọn khí tiết kiên trinh với non sông.
Nhân dân Phú Thứ đời đời ghi nhớ công ơn hộ quốc an dân, lập bài vị phụng thờ bà làm Thành hoàng bảo trợ cho làng, được các triều đại phong tặng mỹ tự 'Thượng đẳng phúc thần'.
THÁM HOA QUỐC LÃO THÁI TỂ NGUYỄN QUÝ ĐỨC (1648 – 1720)
Đỗ Thám hoa khoa Bính Thìn (1676), Tể tướng triều Lê, Quốc Tử Giám Tế tửu, danh nhân văn hóa lớn chủ trì khắc 20 bia Tiến sĩ Văn Miếu năm 1717.
Ông là bậc hiền thần đức độ thương dân, hết lòng chăm lo việc nước việc dân. Khi trí sĩ năm 1717, triều đình ban tặng xe Ngọc Lộ và 30 mẫu ruộng lộc, ông đã dành đất lập chợ Khánh Nguyên (chợ Mỗ ngày nay) giúp dân chúng buôn bán làm ăn. Dân gian ca tụng: 'Tể tướng Quý Đức thiên hạ hữu túc'.
Sau khi qua đời được triều đình truy tặng Thái Tể Trung Phong Đại Vương, nhân dân Phú Thứ rước bài vị vào đình phối thờ làm Phúc thần để tri ân công đức to lớn.
HOÀNG GIÁP BỒI TỤNG NGUYỄN QUÝ ÂN (1673 – 1722)
Con trưởng Thám hoa Nguyễn Quý Đức, đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi (1715), Quốc sư giảng sách cho Thế tử, nổi danh thi sĩ thư pháp 'Tâm chính, bút chính'.
Là bậc danh thần thanh liêm chính trực, hết lòng giáo dưỡng Thế tử và biên soạn kinh sách, ông được vua Lê Dụ Tông kính trọng và tin cậy giao phó trọng trách triều đình.
Khi mất được truy tặng Diên Quận công, Thiếu bảo, phong tặng Trung thuần Đoan chính Đại Vương, được nhân dân tôn vinh làm Thành hoàng và Phúc thần đời đời hương khói.
THAM TỤNG KÍNH QUẬN CÔNG NGUYỄN QUÝ KÍNH (1693 – 1766)
Cháu đích tôn Thám hoa Nguyễn Quý Đức, Tể tướng đứng đầu bách quan hơn 20 năm thời Cảnh Hưng, giữ yên triều chính thái bình thịnh trị.
Ông lập đại công dẹp yên nội loạn năm Vĩnh Hựu 5 (1739), mở ra thời kỳ thái bình niên hiệu Cảnh Hưng, được ngự ban 8 chữ vàng 'Thái Sơn Bắc Đẩu - Kiều Mộc Thế Thần'.
Khi tạ thế triều đình cử 500 cơ binh giúp việc tang tế và gia phong Thượng đẳng Phúc thần, được nhân dân làng Phú Thứ tôn kính phối thờ tại đình.
THÁNH MẪU LIỄU HẠNH (MẪU NGHI THIÊN HẠ)
Đệ nhất Thánh Mẫu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, vị Thánh đứng đầu Tứ bất tử trong tâm thức dân gian, được phụng thờ chính tại Đền Sòng Sơn.
Mẫu Liễu Hạnh được phụng thờ tại Đền Sòng Sơn (Sòng Sơn lưỡng chỉ) nằm kề bên đình, biểu trưng cho lòng từ bi nhân hậu, chở che sinh sôi và ban phát bình an, may mắn cho bách gia trăm họ.
Hằng năm, ban tế nữ quan cùng nhân dân địa phương tổ chức đại lễ tế Mẫu trang nghiêm trong dịp lễ hội truyền thống tháng Hai âm lịch.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ, NGHI MÔN VÀ GIẾNG ĐÌNH PHONG THỦY
Khuôn viên di tích tọa lạc trên gò đất cao ráo trung tâm làng, hội tụ sinh khí phong thủy với Nghi môn tứ trụ, giếng tròn và cây cổ thụ rợp bóng.
Cụm di tích Đình - Đền Phú Thứ tọa lạc trên khu đất cao ráo, thoáng mát tại vị trí trung tâm làng Phú Thứ cổ. Không gian được quy hoạch khang trang với Nghi môn tứ trụ bề thế đắp rồng phượng tinh xảo, sân đình lót gạch Bát Tràng và nhiều cây cổ thụ quanh năm tỏa bóng mát.
Điểm nhấn phong thủy độc đáo là giếng đình hình tròn phía trước Nghi môn, quanh bờ xây lan can trang trí hoa văn vàng tinh tế. Giếng tròn tụ thủy sinh khí, kết hợp bức bình phong đắp nổi hổ phù 'Mãnh hổ hạ sơn' tạo nên bức tiền án vững chắc ngăn chặn tà khí cho toàn bộ di tích.
TÒA ĐẠI ĐÌNH BÍT ĐỐC TAY NGAI VÀ VÌ KÈO LIM BỀ THẾ
Đại đình 5 gian 2 chái xây dựng kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta mũi hài và bờ nóc Lưỡng long chầu nguyệt cổ kính.
Tòa Đại đình được xây dựng theo kiểu 5 gian 2 chái, tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta mũi hài rêu phong cổ kính. Bờ nóc đắp nổi Lưỡng long chầu nguyệt và hàng rồng gốm men lam uốn lượn sống động.
Bộ khung gỗ lim chịu lực gồm 4 hàng chân cột đặt trên chân tảng đá xanh cổ bồng vững chãi. Kết cấu vì nóc kiểu 'chồng rường giá chiêng', hạ bẩy hiên bào trơn đóng bén, tạo nên không gian tiền đường rộng mở và tôn nghiêm.
NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC GỖ VÀ TRANG TRÍ CỔ TRUYỀN
Đề tài chạm khắc tứ linh, hổ phù và hoa lá cách điệu trên các cấu kiện gỗ lim đạt đỉnh cao nghệ thuật điêu khắc dân gian.
Hệ thống điêu khắc gỗ tại Đại đình thể hiện tài hoa điêu luyện của người thợ mộc Mỗ xưa. Các mảng cốn mê gian giữa chạm nổi tinh xảo đề tài rồng cuốn thủy, hổ phù ngậm chữ Thọ, phượng ngậm hoa và mây lửa cuồn cuộn.
Gian tiền tế treo bức đại tự 'Thần Công' cùng hệ thống hoành phi, câu đối lòng máng cẩn ốc xà cừ sơn son thếp vàng lộng lẫy, ca ngợi cảnh sắc non nước thanh tú và sự hiển linh của các vị Thành hoàng.
TÒA HẬU CUNG KÍN ĐÁO VÀ THÂM NGHIÊM
Nếp nhà 5 gian song song phía sau Đại đình theo bố cục chữ Nhị, nơi tôn trí ngai vàng, bài vị và cất giữ sắc phong thần.
Nằm song song phía sau Đại đình theo bố cục chữ Nhị (二) là tòa Hậu cung gồm 5 gian gỗ lim chắc chắn, ngăn cách với Đại đình bởi một khoảng sân thông gió hẹp đón ánh sáng tự nhiên.
Vì kèo Hậu cung làm theo kiểu quá giang kẻ suốt vững chắc. Đây là chốn thâm nghiêm cấm địa, nơi tôn trí bàn thờ chính, 5 cỗ long ngai bài vị cổ chạm rồng thế kỷ XVIII - XIX, mũ thờ nạm ngọc và bảo quản 11 đạo sắc phong triều Nguyễn.
ĐỀN PHÚ THỨ (ĐỀN SÒNG SƠN - SÒNG SƠN LƯỠNG CHỈ)
Quần thể đền thờ Mẫu liền kề gồm Nghi môn, Tiền tế, Trung đường và Cung cấm với bức đại tự 'Thượng Đẳng Linh Từ'.
Đền Sòng Sơn nằm liền kề bên đình, được quy hoạch đăng đối hài hòa gồm Nghi môn, sân đền, Tiền tế, Trung đường và Cung cấm tôn nghiêm.
Tòa Tiền tế 3 gian kết cấu vì quá giang kẻ suốt thanh thoát, treo bức đại tự 'Thượng Đẳng Linh Từ'. Cung cấm là nơi thâm nghiêm tôn trí tượng tròn Thánh Mẫu Liễu Hạnh ngự trong khám thờ lộng lẫy cùng hai thị nữ Quỳnh Hoa và Quế Hoa.
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Bộ sưu tập hình ảnh kiến trúc di tích
Nhấp chọn ảnh để xem kích thước lớn kèm chú thích khảo sát chi tiết.
Bộ đòn kiệu rước thần thời Lê Trung Hưng (TK XVII - XVIII)
Bộ đòn kiệu rước độc bản có niên đại từ thế kỷ XVII - XVIII thời Lê Trung Hưng, chất liệu gỗ sơn son thếp vàng chạm trổ rồng mây tinh xảo; hiện vật mỹ thuật cổ hiếm có còn bảo lưu nguyên vẹn qua thăng trầm thời gian.
Mũ thờ Thành hoàng nạm ngọc sơn son thếp vàng
Cỗ mũ thờ Thành hoàng cánh chuồn chế tác kỳ công với các chi tiết rồng chầu, hoa lá chạm lộng dát vàng nạm ngọc tinh xảo, đặt trang trọng trên ngai rồng khoác long bào thêu kim tuyến.
Hệ thống 14 đạo sắc phong triều Nguyễn
Kho tàng 14 đạo sắc phong nguyên bản (11 đạo tại đình, 3 đạo tại đền) ban cho Thủy Hải Long Vương, Ả Lã Nàng Đê, Tam vị Đại vương họ Nguyễn Quý và Thánh Mẫu Liễu Hạnh qua các triều vua Nguyễn.
Bộ 5 cỗ long ngai và bài vị cổ thế kỷ XVIII - XIX
Năm cỗ long ngai bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng được chạm khắc rồng ổ, hoa cúc dây và hổ phù tinh mỹ mang phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng và triều Nguyễn.
Đại tự 'Thượng Đẳng Phúc Thần' và hoành phi câu đối cổ
Bức đại tự sơn son thếp vàng nền hoa văn gấm chạm nổi 4 chữ 'Thượng Đẳng Phúc Thần' (上等福神) cùng các bức đại tự 'Thần Công', cuốn thư gỗ cổ và câu đối lòng máng cẩn xà cừ quý hiếm.
Bia đá thời Nguyễn gắn tường đình
Tấm bia đá cổ thời Nguyễn được gắn cẩn trọng trên tường Hậu cung ghi chép công đức của các bậc tiền nhân, việc cúng ruộng đất và tục thờ Hậu của làng Phú Thứ xưa.
Bộ ba pho tượng tròn Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Nhị vị Tiên nữ
Ba pho tượng tròn nghệ thuật thời Nguyễn chạm khắc Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng Quỳnh Hoa và Quế Hoa tọa thiền trong khám thờ sơn son thếp vàng tại Đền Sòng Sơn.
Khám phá thêm tư liệu và mô phỏng hiện vật
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
Bộ đòn kiệu rước thần thời Lê Trung Hưng (TK XVII - XVIII)
Bộ đòn kiệu rước độc bản có niên đại từ thế kỷ XVII - XVIII thời Lê Trung Hưng, chất liệu gỗ sơn son thếp vàng chạm trổ rồng mây tinh xảo; hiện vật mỹ thuật cổ hiếm có còn bảo lưu nguyên vẹn qua thăng trầm thời gian.
Lễ hội truyền thống Đình - Đền Phú Thứ được tổ chức hằng năm từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Hai âm lịch (chính hội ngày 13 tháng Hai). Đây là ngày hội tụ văn hóa tâm linh thiêng liêng nhất của cộng đồng làng Phú Thứ, thể hiện đạo lý Uống nước nhớ nguồn và tinh thần gắn kết xóm làng bền chặt.
Lễ mộc dục (bao sái đồ thờ, long ngai, bài vị) và lễ mở cửa đình vào sáng ngày 12 tháng Hai âm lịch.
Nghi thức đại tế nam quan tại Đình Phú Thứ và tế nữ quan trang nghiêm tại Đền Sòng Sơn phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh.
Đại đám rước kiệu thánh uy nghi vòng quanh đường làng ngõ xóm thôn Phú Thứ trong tiếng chiêng trống hội rộn rã.
Tổ chức hội thi văn nghệ quần chúng, thi đấu thể thao (cầu lông, cờ tướng) và các trò chơi dân gian: kéo co, chọi gà, chọi chim họa mi.
Hội thi thổi xôi, đồ xôi truyền thống giữa các giáp gìn giữ nét tinh hoa ẩm thực làng quê xứ Đoài.
Xếp hạng Di tích cấp Quốc gia: Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia vào ngày 12/3/1995 theo Quyết định số 188-QĐ/BT.
Phối thờ thần linh và danh nhân độc đáo: Đình Phú Thứ là di tích hiếm hoi phối thờ cả Thủy thần (Thủy Hải Long Vương), Nữ tướng chống giặc ngoại xâm (Ả Lã Nàng Đê) và Tam vị Đại vương khoa bảng họ Nguyễn Quý (Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân, Nguyễn Quý Kính).
Bảo vật đòn kiệu thời Lê Trung Hưng: Đình hiện bảo lưu bộ đòn kiệu rước thần có niên đại từ thế kỷ XVII - XVIII cực kỳ quý hiếm và còn nguyên vẹn đường nét chạm rồng điêu luyện.
Trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu: Đền Phú Thứ (Sòng Sơn lưỡng chỉ) nằm sát cạnh đình là nơi thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ tôn nghiêm với đoàn tế nữ quan giàu truyền thống.
Tên cổ Ba Lật và làng nghề tài hoa: Làng Phú Thứ xưa mang tên Ba Lật, nổi tiếng đất kinh kỳ với nghề thủ công dệt chỉ, giọt trang kim và nghề làm thợ thiếc khéo léo.
Căn cứ hoạt động cách mạng bí mật: Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), đình và đền Phú Thứ là nơi chở che an toàn cho lực lượng du kích và các tổ chức cách mạng Tây Mỗ.
THƯ VIỆN SỐ VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN
Thực hiện chương trình chuyển đổi số di sản văn hóa của phường Tây Mỗ, cụm di tích Đình - Đền Phú Thứ đã được xây dựng hệ thống Thư viện số toàn diện gồm: kho tư liệu ảnh kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc độ phân giải cao; cơ sở dữ liệu số hóa 14 đạo sắc phong triều Nguyễn kèm bản phiên âm dịch nghĩa; hệ thống mã QR tra cứu thông tin và thuyết minh tự động tại di tích. Công tác bảo tồn di tích được UBND phường Tây Mỗ và Tiểu ban Quản lý di tích duy trì nghiêm ngặt, định kỳ chống mối mọt cấu kiện gỗ lim, giữ gìn tuyệt đối các bảo vật cổ và giáo dục truyền thống hiếu học cho các thế hệ tương lai.
THÔNG TIN THAM QUAN
Địa điểm & Thời gian
Địa chỉ: Tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội.
Thời gian lễ hội: Mở cửa đón tiếp nhân dân và du khách thập phương vào các ngày rằm, mùng một hằng tháng, dịp lễ Tết, tuần tiết và trong 3 ngày Lễ hội truyền thống (12 đến 14 tháng Hai âm lịch).
Hướng dẫn tham quan
Trang phục lịch sự, kín đáo; giữ gìn trật tự và vệ sinh môi trường di tích.
Không tự ý chạm vào hiện vật, cổ vật và hệ thống sắc phong thần.
Thực hiện nếp sống văn minh nơi thờ tự, không mang chất gây cháy nổ vào khuôn viên.
Tuân thủ hướng dẫn của Tiểu ban Quản lý di tích trong suốt quá trình tham quan.
Khám phá số & Quản lý
Quét mã QR gắn tại cổng di tích để tra cứu thông tin lịch sử, kiến trúc và nghe thuyết minh tự động qua điện thoại di động.
Đơn vị quản lý: Ủy ban nhân dân phường Tây Mỗ & Tiểu ban Quản lý di tích Đình - Đền Phú Thứ.