Được xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1993 (QĐ số 774-QĐ/BT)
Đình Đại Mỗ là công trình kiến trúc tín ngưỡng truyền thống tiêu biểu của vùng đất cổ Thiện Mỗ (Đại Mỗ) - địa danh danh tiếng nằm trong 'Tứ đại danh hương' Thăng Long xưa: 'Mỗ - La - Canh - Cót'. Ngôi đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi lưu giữ giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật 2 tầng 8 mái độc đáo, hệ thống 10 sắc phong triều Nguyễn cùng truyền thống khoa bảng vẻ vang của dòng họ Nguyễn Quý.
GIỚI THIỆU CHUNG
KIẾN TRÚC 2 TẦNG 8 MÁI TÒA ĐẠI ĐÌNHTòa Đại đình nổi bật với kiến trúc 2 tầng 8 mái độc đáo, mái lợp ngói ta mũi hài, góc đao cong vút thanh thoát.CỔNG NGHI MÔN & BỐN TRỤ BIỂU BỀ THẾLối vào trang nghiêm mở đầu không gian tâm linh với hệ thống cột trụ biểu cổ kính dẫn vào sân đình rộng rãi.CHÍNH ĐIỆN & KHÔNG GIAN THỜ TỰ UY NGHIÊMGian chính điện trang trọng với hệ thống cửa võng chạm rồng, hoành phi câu đối sơn son thếp vàng ca ngợi công đức tiền nhân.CẢNH QUAN HỒ ĐÌNH & CÂY ĐA CỔ THỤHồ nước trong xanh cùng cây cổ thụ tỏa bóng mát rượi phía trước đình, điều hòa sinh khí phong thủy cho toàn bộ di tích.KHO TÀNG 10 ĐẠO SẮC PHONG TRIỀU NGUYỄNHệ thống 10 đạo sắc phong nguyên gốc do các triều vua Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định ban tặng bảo lưu trọn vẹn.
Đình Đại Mỗ là một công trình kiến trúc tín ngưỡng truyền thống tiêu biểu của làng Đại Mỗ, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội. Nằm ở vị trí trung tâm làng Đại Mỗ - xưa kia có tên là Thiện Mỗ (Thiên Mỗ), ngôi đình gắn bó mật thiết với quá trình hình thành, phát triển và bồi đắp đời sống văn hóa, tâm linh của cộng đồng cư dân qua nhiều thế kỷ.
Đình Đại Mỗ là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi lưu giữ giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật 2 tầng 8 mái độc đáo, hệ thống 10 sắc phong triều Nguyễn cùng truyền thống khoa bảng vẻ vang của dòng họ Nguyễn Quý.
Đình phụng thờ hệ thống đa thần bao gồm Thủy Hải Long Vương, nữ tướng Ả Lã Nàng Đê và phối phụng Tam vị Đại vương dòng họ Nguyễn Quý (Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân, Nguyễn Quý Kính) - ba thế hệ nối tiếp nhau đỗ đạt cao, giữ chức Tể tướng/Tham tụng triều Lê Trung Hưng, làm rạng danh truyền thống khoa bảng của vùng đất "Nhất Mỗ, nhì La".
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, Đình Đại Mỗ đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 774-QĐ/BT ngày 21/6/1993, khẳng định vị thế của ngôi đình cổ kính trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Tên di tích
Đình Đại Mỗ (Tên địa danh lịch sử: Thiện Mỗ / Thiên Mỗ)
Địa chỉ hiện nay
Tổ dân phố Đình, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội
Loại hình di tích
Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật / Tín ngưỡng truyền thống
Xếp hạng
Di tích Quốc gia năm 1993 (QĐ số 774-QĐ/BT ngày 21/6/1993 của Bộ Văn hóa - Thông tin)
Đối tượng thờ phụng
Thủy Hải Long Vương · Ả Lã Nàng Đê · Tam vị Đại vương họ Nguyễn Quý
Hiện vật tiêu biểu
10 đạo sắc phong triều Nguyễn (1849 - 1917), long ngai, bài vị, hoành phi, câu đối Hán Nôm
Đình Đại Mỗ gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của làng Đại Mỗ - một vùng đất cổ giàu truyền thống văn hiến và khoa bảng. Tên gọi địa danh có sự biến đổi qua các thời kỳ: trước năm 1848, làng có tên là Thiên Mỗ (hoặc Thiện Mỗ). Đến năm 1848, dưới thời vua Tự Đức nhà Nguyễn, địa danh chính thức đổi tên thành Đại Mỗ và được sử dụng cho đến ngày nay.
Ngôi đình là chứng nhân lịch sử cho quá trình quy tụ cư dân, xác lập không gian văn hóa làng xã và duy trì đời sống tâm linh của nhân dân địa phương. Trong "Tứ đại danh hương" nổi tiếng của kinh thành Thăng Long xưa ("Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh Cót"), Đại Mỗ đứng đầu về truyền thống hiếu học, đỗ đạt và phụng sự đất nước.
Trải qua các đợt biến động lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đình Đại Mỗ từng bị quân Pháp chiếm đóng và phá hủy một phần cấu trúc. Sau khi hòa bình lặp lại, cộng đồng nhân dân địa phương đã từng bước đóng góp công sức, tiền của để khôi phục, tôn tạo ngôi đình, gìn giữ nguyên vẹn kiểu dáng kiến trúc truyền thống cũng như hệ thống di vật quý giá.
Ngày 21 tháng 6 năm 1993, Đình Đại Mỗ vinh dự được Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 774-QĐ/BT công nhận và xếp hạng là Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, khẳng định giá trị trường tồn của ngôi đình cổ kính trong kho tàng di sản Thăng Long - Hà Nội.
DI TÍCH QUA DÒNG THỜI GIAN
TRƯỚC NĂM 1848Vùng đất mang tên cổ là Thiên Mỗ (Thiện Mỗ), đứng đầu trong 'Tứ đại danh hương' Thăng Long xưa ('Nhất Mỗ, nhì La...').
NĂM 1848Dưới thời vua Tự Đức nhà Nguyễn, địa danh Thiên Mỗ chính thức được đổi tên thành Đại Mỗ.
1849 – 1917Giai đoạn di tích được các triều vua nhà Nguyễn ban tặng 10 đạo sắc phong cổ ghi nhận công đức thần linh và danh nhân.
1945 – 1954Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đình bị quân Pháp chiếm đóng và hư hại một phần cấu trúc.
21/06/1993Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 774-QĐ/BT xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.
HIỆN NAYDi tích được bảo tồn nguyên trạng khang trang, duy trì lễ hội truyền thống đầu xuân và tích cực triển khai số hóa di sản.
Di tích gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thiện Mỗ/Đại Mỗ, lưu giữ hệ thống 10 sắc phong triều Nguyễn (từ năm 1849 đến năm 1917) cùng nhiều tư liệu Hán Nôm, câu đối, hoành phi phản ánh chế độ phong tặng thần của các triều đại phong kiến.
Hệ thống tư liệu lịch sử tại đình là minh chứng quý báu ghi nhận công đức của các bậc thần linh bảo hộ và các danh nhân hiền tài đối với đất nước và quê hương qua nhiều thế kỷ.
GIÁ TRỊ VĂN HIẾN VÀ KHOA BẢNG
Đình tôn vinh ba bậc hiền tài dòng họ Nguyễn Quý (Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân, Nguyễn Quý Kính) - ba thế hệ nối tiếp nhau đỗ đạt cao, giữ chức Tể tướng/Tham tụng, làm rạng danh truyền thống khoa bảng của vùng đất "Mỗ - La - Canh - Cót".
Truyền thống "tam đại Tể tướng" của dòng họ Nguyễn Quý là niềm tự hào sâu sắc của nhân dân Đại Mỗ, thể hiện tinh thần hiếu học, trọng dụng nhân tài và phụng sự giang sơn của tiền nhân.
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT
Đại đình sở hữu kết cấu kiến trúc 2 tầng 8 mái đặc sắc với các góc đao uốn cong mềm mại. Hệ thống chạm khắc trên gỗ vô cùng phong phú với các đề tài Lưỡng long chầu nguyệt, Tứ linh, Long mã, Rồng mây, Rồng lá, Mai lão, Cúc lão.
Các nghệ nhân xưa đã thể hiện trình độ tạo tác tài hoa qua từng nét đục chạm trên các cấu kiện vì kèo, cốn mê, con rường và đầu dư, mang đậm bản sắc mỹ thuật dân gian Bắc Bộ.
GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG
Lễ hội truyền thống Đình Đại Mỗ là môi trường thực hành tín ngưỡng sinh động, nơi diễn ra nghi thức tế Thành hoàng và tế danh nhân Nguyễn Quý, góp phần thắt chặt tình đoàn kết làng xóm và truyền dạy đạo lý "Uống nước nhớ nguồn".
Không gian ngôi đình là điểm tựa tâm linh vững chắc, nơi lưu giữ ký ức làng quê và trao truyền các phong tục tập quán tốt đẹp qua bao thế hệ cư dân Đại Mỗ.
Là vị thủy thần biểu trưng cho sức mạnh tự nhiên của sông nước và nguồn nước, bảo hộ đời sống cư dân đồng bằng châu thổ.
Việc thờ phụng Thủy Hải Long Vương xuất phát từ tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước cổ truyền, thể hiện ước vọng cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm, an cư lạc nghiệp.
Ả LÃ NÀNG ĐÊ
Vị nữ tướng anh hùng thời Hai Bà Trưng (năm 40 sau Công nguyên), có công chiêu mộ quân sĩ, đánh đuổi quân xâm lược Đông Hán và hy sinh lẫm liệt để giữ trọn khí tiết.
Bà được các triều đại phong kiến sắc phong là Thượng đẳng phúc thần, được nhân dân vùng Xứ Đoài và Đại Mỗ tôn thờ làm Thành hoàng làng, biểu tượng sáng ngời của tinh thần quật khởi cứu nước.
TAM VỊ ĐẠI VƯƠNG DÒNG HỌ NGUYỄN QUÝ
Ba thế hệ cha con, ông cháu dòng họ Nguyễn Quý đều đỗ đại khoa, giữ chức Tham tụng (Tể tướng) triều Lê Trung Hưng, là trụ cột triều chính suốt gần một thế kỷ.
Dòng họ Nguyễn Quý đất Mỗ nổi danh với ba đời liên tiếp giữ trọng trách Tể tướng triều đình, có công lao to lớn đối với quốc gia và quê hương, được nhân dân lập đền thờ và phối phụng trang trọng tại đình.
Thám hoa Nguyễn Quý Đức (1648 – 1720)
Sinh năm 1648 tại làng Thiên Mỗ. Cụ đỗ đầu khoa thi Đình năm 1672 (Thám hoa), từng giữ chức Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Hộ, Tham tụng (Tể tướng). Cụ nổi tiếng là vị quan thanh liêm, thương dân. Năm 1717, cụ trực tiếp trông coi việc dựng 20 tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân (1673 – 1722)
Con trưởng của Thám hoa Nguyễn Quý Đức, đỗ Hoàng giáp năm 1715, giữ chức Tham tụng. Cụ nổi tiếng giỏi tài bút thiếp, đỗ giải nhất cuộc thi soạn sách cho Thế tử năm 1718, tiếp nối vẻ vang truyền thống khoa bảng gia đình.
Tham tụng Nguyễn Quý Kính (1693 – 1766)
Cháu đích tôn của Nguyễn Quý Đức, đỗ đạt và phò giúp triều đình giữ vững ngôi chúa, làm Tham tụng, Thượng thư Bộ Lễ, được phong tặng Đại Tư đồ Huyền Trung Công. Cụ là trụ cột triều chính suốt hơn hai mươi năm.
Đình Đại Mỗ được quy hoạch trên khu đất cao, rộng rãi tại trung tâm làng. Bố cục không gian di tích được sắp xếp hài hòa theo trục thần đạo truyền thống của đình làng Bắc Bộ.
Cổng tam quan
Lối vào trang nghiêm mở đầu không gian tâm linh với hệ thống bốn cột trụ biểu bề thế vươn cao.
Sân đình & Ao đình
Khoảng sân rộng lót gạch đỏ, là nơi tập trung nhân dân trong các dịp lễ hội và sinh hoạt cộng đồng, phía trước có ao đình điều hòa phong thủy vi khí hậu.
Hai dãy Giải vũ (Tả / Hữu mạc)
Hai dãy nhà nằm song song hai bên sân đình, phục vụ việc chuẩn bị lễ vật và tiếp đón khách thập phương.
Tòa Đại đình (2 tầng 8 mái)
Công trình trung tâm nổi bật với kiến trúc 2 tầng 8 mái độc đáo, mái lợp ngói ta mũi hài, góc đao uốn lượn cong vút mềm mại thanh thoát.
Hậu cung linh thiêng
Nằm phía sau Đại đình theo bố cục chữ "Nhị" dạng chuôi vồ, là không gian linh thiêng nhất đặt long ngai, bài vị và các sắc phong cổ.
NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC TRANG TRÍ
Điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc nhất của Đình Đại Mỗ nằm ở hệ thống điêu khắc gỗ trên các cấu kiện vì kèo, cốn mê, con rường và đầu dư với trình độ tạo tác tài hoa của nghệ nhân xưa.
Lưỡng long chầu nguyệt
Hình tượng hai con rồng chầu mặt nguyệt mang ý nghĩa âm dương hòa hợp, cầu mong mưa thuận gió hòa và quốc thái dân an.
Tứ linh (Long – Ly – Quy – Phượng)
Biểu tượng của sự linh thiêng, may mắn, trường tồn và phát triển, được thể hiện sinh động trên các bức cốn mê và vì nóc.
Long mã & Rồng mây
Hình tượng linh thú kết hợp giữa rồng và ngựa, thể hiện sức mạnh phi thường và sự tinh anh hanh thông.
Rồng lá & Nghệ thuật cách điệu dân gian
Hình thức rồng biến hóa từ hoa lá cây cỏ, mang đậm nét mỹ thuật dân gian mộc mạc và phóng khoáng vùng châu thổ Bắc Bộ.
Mai lão – Cúc lão
Mô típ trang trí hoa lá cách điệu mang tính thẩm mỹ và triết lý cao, tượng trưng cho khí tiết thanh cao của bậc quân tử.
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Bộ sưu tập hình ảnh kiến trúc di tích
Nhấp chọn ảnh để xem kích thước lớn kèm chú thích khảo sát chi tiết.
Hệ thống 10 sắc phong cổ triều Nguyễn (1849 - 1917)
Di tích lưu giữ 10 đạo sắc phong nguyên gốc do các triều vua nhà Nguyễn ban tặng từ năm 1849 đến năm 1917, ghi nhận công đức của các vị thần và danh nhân được phụng thờ.
Long ngai & Khám thờ sơn son thếp vàng
Chạm khắc hình rồng sơn son thếp vàng công phu, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn uy nghiêm đặt tại Hậu cung linh thiêng.
Hoành phi & Câu đối Hán Nôm cổ
Hệ thống hoành phi, câu đối chữ Hán tinh xảo gắn trên các cột gỗ lim, ca ngợi công đức Thành hoàng và truyền thống khoa bảng đất Mỗ.
Đỉnh hương đá nguyên khối & Đồ thờ tự cổ truyền
Kho tàng hiện vật phong phú bao gồm đỉnh hương đá tam sơn, nhang án, bát bửu, đỉnh đồng, chân nến, kiệu rước và hòm sắc được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Khám phá thêm tư liệu và mô phỏng hiện vật
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
Hệ thống 10 sắc phong cổ triều Nguyễn (1849 - 1917)
Di tích lưu giữ 10 đạo sắc phong nguyên gốc do các triều vua nhà Nguyễn ban tặng từ năm 1849 đến năm 1917, ghi nhận công đức của các vị thần và danh nhân được phụng thờ.
Lễ hội truyền thống Đình Đại Mỗ diễn ra hằng năm vào dịp đầu xuân (mùng 10 – 11 tháng Giêng âm lịch). Đây là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lớn nhất của cộng đồng dân cư địa phương, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương.
Công tác chuẩn bị, chỉnh trang khuôn viên & bao sái đồ thờ tự
Nghi thức Rước kiệu cổ truyền quanh các tuyến đường làng về đình
Nghi lễ Tế Thành hoàng trang trọng (Nghênh thần, Sơ hiến, Á hiến, Chung hiến, Đọc chúc văn)
Nghi lễ Tế danh nhân Tam vị Đại vương dòng họ Nguyễn Quý
Phần hội & Trò chơi dân gian (cờ người, chọi gà, kéo co, biểu diễn văn nghệ)
Đại Mỗ từng có tên là Thiên Mỗ: Tên gọi Đại Mỗ chính thức được đổi từ tên cổ Thiên Mỗ (Thiện Mỗ) vào năm 1848 dưới thời vua Tự Đức nhà Nguyễn.
Lưu giữ 10 sắc phong cổ: Đình Đại Mỗ hiện lưu giữ 10 đạo sắc phong triều Nguyễn có niên đại từ năm 1849 đến năm 1917.
Kiến trúc 2 tầng 8 mái hiếm có: Tòa Đại đình của Đình Đại Mỗ có kết cấu kiến trúc 2 tầng 8 mái vô cùng độc đáo và hiếm có trong hệ thống đình làng Bắc Bộ.
Phụ phụng ba vị Tể tướng dòng họ Nguyễn Quý: Ngoài thờ thần linh, đình còn thờ 3 cha con, ông cháu dòng họ Nguyễn Quý đều đỗ đạt cao và giữ chức Tể tướng/Tham tụng triều Lê Trung Hưng.
THƯ VIỆN SỐ VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN
Trong chương trình chuyển đổi số di sản văn hóa của phường Tây Mỗ, Thư viện số Đình Đại Mỗ được xây dựng nhằm lưu trữ, quản lý và quảng bá toàn bộ dữ liệu di tích trên nền tảng số: ảnh chi tiết kiến trúc 2 tầng 8 mái, nghệ thuật chạm khắc cốn mê xà kèo, cùng hệ thống 10 đạo sắc phong triều Nguyễn được số hóa phân giải cao kèm bản phiên âm dịch nghĩa. Công tác bảo tồn di tích được UBND phường và Tiểu ban Quản lý triển khai đồng bộ giữa giữ gìn kiến trúc gốc, phát huy giá trị phi vật thể và đẩy mạnh ứng dụng mã QR cho du khách.
THÔNG TIN THAM QUAN
Địa điểm & Thời gian
Địa chỉ: Tổ dân phố Đình, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội.
Thời gian lễ hội: Mở cửa đón tiếp nhân dân và du khách tham quan, dâng hương vào các ngày rằm, mùng một hằng năm và dịp Lễ hội truyền thống đầu xuân (mùng 10 – 11 tháng Giêng âm lịch).
Hướng dẫn tham quan
Trang phục lịch sự, kín đáo; giữ gìn vệ sinh môi trường và cảnh quan di tích.
Không tự ý chạm vào hiện vật, cổ vật và hệ thống 10 đạo sắc phong cổ.
Thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn sự trang nghiêm và tôn kính nơi thờ tự.
Tuân thủ sự hướng dẫn của Ban Quản lý di tích trong thời gian tham quan, dâng hương.
Khám phá số & Quản lý
Quét mã QR gắn tại các điểm tham quan chính trong đình để nghe thuyết minh tự động và tra cứu thông tin thư viện số.
Đơn vị quản lý: Ủy ban nhân dân phường Tây Mỗ & Tiểu ban Quản lý di tích Đình Đại Mỗ.