Di tích cấp Thành phố năm 2009 · Địa chỉ đỏ kháng chiến
Tọa lạc tại làng Giao Quang (Kẻ Quánh) cổ kính bên bờ sông Nhuệ, ngôi đình bảo tồn nét kiến trúc chữ Đinh thời Nguyễn, nghệ thuật chạm khắc Cửa võng Cửu long tranh châu lộng lẫy, lưu giữ bia đá Các kỵ hậu bi năm 1901 và truyền thống văn hóa nức tiếng "Cá sông Đôi, xôi Kẻ Quánh".
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐÌNH GIAO QUANG
CHÍNH ĐIỆN VÀ CỬA VÕNG CỬU LONGCửa võng Cửu long tranh châu và cuốn thư Lịch triều phong cáo sơn son thếp vàng lộng lẫy.KIỆU LONG ĐÌNH THẾ KỶ XIXCỗ kiệu Long đình cổ kính chạm trổ hoa văn rồng mây tinh xảo thờ phụng hai vị Thành hoàng.BỘ BÁT BỬU VÀ BIỂN TĨNH TÚCHàng binh khí Bát bửu thần binh và biển Tĩnh Túc thếp vàng rực rỡ chốn phụng tự.BỜ NÓC MÁI ĐẮP RỒNG CHẦUBờ nóc lợp ngói mũi hài cổ truyền đắp nổi rồng chầu khảm sành sứ thời Nguyễn.AO ĐÌNH VÀ CẢNH QUAN LÀNG QUÊKhông gian mặt nước ao làng Giao Quang thanh bình, tụ thủy phong thủy thịnh vượng.
Đình Giao Quang là công trình kiến trúc tín ngưỡng tiêu biểu gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng Giao Quang cổ xưa (có tên chữ trước đây là Dao Quang - mang ý nghĩa ánh sáng của ngọc dao, ánh sáng của tình giao hữu; tên nôm dân gian gọi là Kẻ Quánh - vùng đất thịt dẻo quánh màu mỡ trù phú bên dòng sông Nhuệ). Ngôi đình hiện nay tọa lạc tại Tổ dân phố Quang Tiến, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Đình Giao Quang là di tích đa giá trị, kết hợp hài hòa giữa loại hình di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật và di tích cách mạng kháng chiến. Đây là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tâm linh, giữ vai trò gắn kết cộng đồng cư dân làng xã qua nhiều thế hệ.
Đình Giao Quang vừa là nơi thực hành tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, bảo lưu truyền thống 'Cá sông Đôi, xôi Kẻ Quánh', vừa là 'địa chỉ đỏ' ghi dấu trận chiến lịch sử ngày 16/6/1949 nơi 26 cán bộ, chiến sĩ và du kích đã anh dũng hy sinh vì độc lập dân tộc.
Căn cứ theo dấu tích vật chất và hệ thống di vật hiện bảo lưu tại di tích, đặc biệt là tấm bia đá 'Các kỵ hậu bi' lập ngày mùng 2 tháng 3 năm Thành Thái thứ 3 (1901) ghi danh các bậc hảo tâm công đức ruộng tiền tu bổ đình, có thể khẳng định Đình Giao Quang được khởi dựng từ rất sớm, ít nhất là vào thời Nguyễn trước năm 1901.
Năm 1924 (Giáp Tý, niên hiệu Khải Định): Đại trùng tu tòa Tiền tế, sự kiện còn ghi rõ trên câu thượng lương: 'Khải Định Giáp Tý thập nhất nguyệt sơ nhị nhật' (ngày mùng 2 tháng 11 năm 1924).
Giai đoạn 1947–1954: Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi đình bị giặc Pháp đốt cháy 2 lần. Nhân dân địa phương phải rước bài vị hai vị Thành hoàng về Miếu Hàm Rồng để bí mật phụng thờ.
Ngày 16/06/1949: Tại khu vực Đình Giao Quang đã diễn ra trận chiến đấu vô cùng ác liệt giữa lực lượng du kích địa phương và quân Pháp. Trong trận đánh kiên cường này, 26 cán bộ, chiến sĩ và du kích đã hy sinh anh dũng để bảo vệ căn cứ kháng chiến.
Năm 1961: Nhân dân di chuyển và phục dựng lại ngôi đình ở vị trí hiện nay (trước năm 1961, đình tọa lạc ở gò đất phía ngoài ao làng). Giai đoạn 1972–1980 diễn ra đợt đại tu lớn nhất toàn bộ kiến trúc Đại đình và Hậu cung. Năm 1997 và 2005, địa phương tiếp tục tu bổ hệ thống cửa, lát lại nền đình và quy hoạch xây dựng cổng Nghi môn tứ trụ bề thế.
DÒNG THỜI GIAN DI TÍCH
Trước năm 1901Khởi dựng Đình Giao Quang thời Nguyễn làm trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng làng Kẻ Quánh.
1901 (Thành Thái 3)Dựng tấm bia đá 'Các kỵ hậu bi' ghi nhận công đức ruộng tiền của các bậc hảo tâm tu bổ ngôi đình.
1917 & 1924Triều vua Khải Định ban 02 đạo sắc phong chính thức tôn vinh công đức Thủy Hải Long Vương.
1924 (Khải Định 9)Đại trùng tu tòa Tiền tế / Đại bái, sự kiện khắc ghi trên câu thượng lương đình ngày 2/11/1924.
1947 – 1954Trong kháng chiến chống Pháp, đình bị đốt cháy 2 lần; nhân dân bí mật rước bài vị về Miếu Hàm Rồng phụng thờ.
16/06/1949Trận chiến đấu chống càn ác liệt; 26 cán bộ, chiến sĩ và du kích hy sinh anh dũng bảo vệ căn cứ cách mạng.
1961Nhân dân đồng lòng di chuyển và phục dựng lại ngôi đình từ gò ao làng vào vị trí trung tâm hiện nay.
1972 – 1980Đợt đại tu lớn nhất toàn bộ khung gỗ lim và mái ngói Đại đình cùng tòa Hậu cung.
1997 & 2005Tu bổ hệ thống cửa, lát lại nền sân gạch Bát (1997) và quy hoạch xây dựng cổng Nghi môn tứ trụ bề thế (2005).
02/02/2009UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 540/QĐ-UBND xếp hạng Đình Giao Quang là Di tích Lịch sử - Kiến trúc Nghệ thuật.
Năm 2025Lễ hội truyền thống Đình Giao Quang được UBND phường Tây Mỗ lập Phiếu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể Thủ đô.
Đình Giao Quang hội tụ trọn vẹn giá trị lịch sử cách mạng, giá trị văn hóa phi vật thể nức tiếng khắp vùng châu thổ sông Nhuệ và nghệ thuật kiến trúc điêu khắc truyền thống thời Nguyễn.
Giá trị Lịch sử và Cách mạng Kháng chiến
Đình Giao Quang là chứng nhân lịch sử gắn liền với quá trình khai phá, lập làng của vùng đất cổ Tây Mỗ. Đặc biệt, trong kháng chiến chống Pháp, đình từng là cơ sở cách mạng bí mật của vùng Liên Bắc, nơi nuôi giấu cán bộ, cất giấu vũ khí và là nơi du kích tuyên thệ trước khi xuất quân chiến đấu tiêu diệt các bốt Mỗ, bốt Ngọc Trục, bốt Trung Văn.
Trận chiến ngày 16/6/1949 với sự hy sinh anh dũng của 26 liệt sĩ dân quân du kích đã biến ngôi đình thành một 'địa chỉ đỏ' thiêng liêng giáo dục truyền thống yêu nước sâu sắc cho các thế hệ mai sau.
Giá trị Văn hóa và Tín ngưỡng dân gian
Đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân Giao Quang. Tín ngưỡng thờ Thủy thần Long Vương và Nữ tướng Hai Bà Trưng thể hiện sâu sắc đạo lý 'Uống nước nhớ nguồn', cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, mùa màng bội thu.
Đặc biệt, nghi thức thi đồ xôi giữa ba giáp trong lễ hội đình làng đã đúc kết nên câu tục ngữ dân gian nổi tiếng khắp vùng Từ Liêm xưa: 'Cá sông Đôi, xôi Kẻ Quánh', khẳng định nét văn hóa ẩm thực và tinh hoa lao động nông nghiệp trù phú của vùng đất ven sông Nhuệ.
Giá trị Kiến trúc Nghệ thuật cổ truyền
Mặc dù trải qua di dời và tu bổ qua các thời kỳ, đình vẫn giữ được nét cổ kính mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn với bố cục chữ Đinh (chuôi vồ), hệ khung gỗ 6 bộ vì kết cấu 'chồng rường giá chiêng' và 'kèo cầu quá giang' bền vững.
Nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ truyền thể hiện đỉnh cao qua các bức cốn mê gian giữa chạm hình rồng nổi tinh xảo, bẩy hiên chạm mây cuộn và bộ cửa võng 'Cửu long tranh châu' thếp vàng lộng lẫy.
Kho tàng Di vật và Cổ vật vô giá
Trải qua hơn một thế kỷ thăng trầm, Đình Giao Quang bảo lưu trọn vẹn bộ sưu tập hiện vật phong phú về chất liệu từ đồ đá, đồ giấy sắc phong đến đồ gỗ chạm khắc thếp vàng và đồ đồng thời Nguyễn.
Tấm bia đá 'Các kỵ hậu bi' năm 1901, 02 đạo sắc phong triều Khải Định, kiệu Long đình thế kỷ XIX, cùng các bức hoành phi câu đối cổ là nguồn sử liệu vật chất vô giá chứng minh bề dày lịch sử và văn hiến của làng quê.
Đình Giao Quang phụng thờ hai vị Thành hoàng đại diện cho hai lớp tín ngưỡng đặc sắc trong lịch sử dân tộc: tín ngưỡng thờ thần sông nước nguyên thủy và tín ngưỡng tri ân anh hùng dân tộc chống ngoại xâm.
Thủy thần Thủy Hải Long Vương (Đức Thánh Cả)
Là vị nhiên thần biểu tượng cho sức mạnh sông nước, gắn liền với dòng sông Nhuệ cổ hiền hòa bồi đắp phù sa màu mỡ cho đôi bờ Kẻ Quánh. Tục thờ Thủy Hải Long Vương bắt nguồn từ tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước sơ khai, tôn vinh lực lượng tự nhiên (Bà Mẹ Nước) để cầu mong nguồn nước tưới tiêu dồi dào, mưa thuận gió hòa, điều hòa thời tiết giúp mùa màng tốt tươi và vạn vật sinh sôi nảy nở.
Ả Lã Nàng Đê (Nữ tướng thời Hai Bà Trưng)
Vị nữ tướng tài danh kiệt xuất thời Hai Bà Trưng (năm 40–43 sau Công nguyên), có công phò tá Trưng Nữ Vương đánh đuổi quân xâm lược Đông Hán, bảo vệ nền độc lập tự chủ của quê hương đất nước. Tín ngưỡng phụng thờ Ả Lã Nàng Đê tôn vinh khí tiết kiên trung, tinh thần quật khởi và đức hy sinh anh dũng của người phụ nữ Việt Nam, là tấm gương liệt nữ sáng ngời cho muôn đời con cháu noi theo.
Đình Giao Quang tọa lạc trên khu đất cao, rộng rãi, thoáng đãng ở trung tâm TDP Quang Tiến, quay hướng Tây Bắc. Quần thể kiến trúc bao gồm: Nghi môn, Sân đình, Đại đình (gồm Đại bái và Hậu cung) và Hữu mạc.
Nghi môn tứ trụ bề thế
Nghi môn xây gạch theo thức tứ trụ uy nghi. Hai trụ lớn có mặt cắt hình vuông, đỉnh đắp hình trái giành (phượng lá lật chụm đuôi), phía dưới có ô lồng đèn trang trí tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) và câu đối chữ Hán sơn son. Hai cổng nách kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái giả ngói ống đao cong thanh thoát, cổ diêm đắp nổi ba chữ Hán 'Tả tiền môn' và 'Hữu tiền môn'.
Sân đình gạch Bát và Ao làng Giao Quang
Khoảng sân đình lát gạch Bát đỏ au rộng rãi, thoáng đãng, là nơi diễn ra các nghi thức rước kiệu, tế lễ Thành hoàng và tổ chức các trò chơi dân gian ngày hội xuân. Phía trước đình là mặt nước ao làng trong xanh phẳng lặng, soi bóng rặng cây cổ thụ, tạo nên không gian phong thủy tụ thủy tích phúc mát lành cho toàn thể dân làng.
Tòa Đại bái (Tiền tế) 5 gian cổ kính
Tòa Đại bái gồm 5 gian, tường hồi bít đốc tay ngai, lợp ngói mũi hài truyền thống. Bờ nóc đắp hổ phù ngậm chữ Thọ đội mặt trời lửa rực rỡ và hai con rồng chầu uốn khúc khảm sành sứ. Nội thất có 6 bộ vì (4 vì giữa kiểu chồng rường giá chiêng, 2 vì hồi kiểu kèo cầu quá giang), 6 hàng chân cột gỗ lim 'thượng thu hạ thách' kê trên chân tảng đá trụ tròn cao 40cm. Hai bức cốn mê gian giữa chạm hình rồng nổi kênh bong vô cùng tinh xảo.
Tòa Hậu cung linh thiêng
Tòa Hậu cung nối liền với gian giữa Đại bái tạo thành mặt bằng chữ Đinh (chuôi vồ) ăn sâu về phía sau. Đây là không gian thâm nghiêm, tĩnh mặc và linh thiêng nhất của ngôi đình, nơi tôn trí khám thờ, long ngai, bài vị và hòm sắc phong cổ của hai vị Thành hoàng làng.
Tòa Hữu mạc và hàng cột đá chạm rồng
Tòa Hữu mạc gồm 3 gian lợp ngói mũi hài nằm vuông góc bên phải sân đình. Điểm nhấn kiến trúc độc đáo là hàng 4 cột đá nguyên khối mặt tiền chạm trổ rồng mây và khắc câu đối chữ Hán tinh xảo, là nơi chuẩn bị lễ vật và tiếp đón các đoàn đại biểu, quan viên về dự hội.
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Bộ sưu tập hình ảnh kiến trúc di tích
Nhấp chọn ảnh để xem kích thước lớn kèm chú thích khảo sát chi tiết.
Trải qua thăng trầm thời gian, Đình Giao Quang bảo lưu được bộ sưu tập hiện vật vô giá phong phú về chất liệu và mang giá trị nghệ thuật cao từ thế kỷ XIX–XX.
BIA ĐÁ 'CÁC KỴ HẬU BI' (NĂM 1901)
Tấm bia đá xanh nguyên khối lập ngày mùng 2 tháng 3 năm Thành Thái thứ 3 (1901) được gắn trang trọng trong hốc tường gian Đại bái, ghi chép danh tính và công đức ruộng tiền của các bậc hảo tâm đóng góp tu bổ tôn tạo ngôi đình làng.
CỬA VÕNG CỔ 'CỬU LONG TRANH CHÂU' (TK XIX)
Tác phẩm điêu khắc gỗ đỉnh cao thời Nguyễn chạm trổ lộng lẫy chín con rồng chầu ngọc quý giữa các tầng mây cuộn kênh bong, dát vàng rực rỡ ngự tại cửa chính điện dẫn vào Hậu cung.
CUỐN THƯ THẾP VÀNG 'LỊCH TRIỀU PHONG CÁO'
Bức cuốn thư lớn sơn son thếp vàng chạm trổ hình hổ phù đội cuốn thư và rồng chầu, chạm nổi 4 chữ Hán lớn 'Lịch Triều Phong Cáo' (歷朝封誥), khẳng định các triều đại phong kiến đều ban sắc phong tôn vinh công đức hai vị Thành hoàng làng.
KIỆU LONG ĐÌNH SƠN SON THẾP VÀNG (TK XIX)
Cỗ kiệu Long đình cổ chế tác từ thế kỷ XIX theo dáng chồng diêm cổ kính, bốn mặt chạm trổ hoa cúc dây, rồng mây và linh thú, được giữ gìn nguyên vẹn dùng để rước bài vị Thành hoàng trong các dịp đại lễ.
HOÀNH PHI CỔ 'THIÊN ĐỊA DỮ THAM' (1932)
Bức hoành phi gỗ quý sơn son thếp vàng mang bốn chữ Hán lớn 'Thiên Địa Dữ Tham' (天地與參), lạc khoản ghi rõ niên đại cúng tiến vào năm Bảo Đại Nhâm Thân (1932), ca ngợi công đức thần linh sánh cùng trời đất.
HOÀNH PHI CỔ 'SƠN XUYÊN CHUNG TÚ' (1944)
Đại tự hoành phi bốn chữ 'Sơn Xuyên Chung Tú' (山川毓秀) cúng tiến năm Bảo Đại Giáp Thân (1944), ca ngợi vẻ đẹp non sông chung đúc khí thiêng bồi tụ hiền tài cho vùng đất Tây Mỗ.
BỘ BÁT BỬU THẦN BINH VÀ BIỂN TĨNH TÚC
Dàn binh khí Bát bửu và đôi biển Tĩnh Túc (Tĩnh Túc / Hồi Tỵ) sơn son thếp vàng rực rỡ, chạm đầu rồng và phụng lộng lẫy uy nghiêm, biểu tượng cho uy quyền tối cao của chốn đình trung.
CÂU ĐỐI LÒNG MÁNG SƠN SON THẾP VÀNG
Hệ thống câu đối lòng máng ôm sát thân cột gỗ lim gian Tiền tế, chạm trổ hoa văn rồng vờn mây thếp vàng, ngợi ca công đức hiển hóa của Thủy thần Thủy Hải Long Vương và Nữ tướng Ả Lã Nàng Đê.
Khám phá thêm tư liệu và mô phỏng hiện vật
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
BIA ĐÁ 'CÁC KỴ HẬU BI' (NĂM 1901)
Tấm bia đá xanh nguyên khối lập ngày mùng 2 tháng 3 năm Thành Thái thứ 3 (1901) được gắn trang trọng trong hốc tường gian Đại bái, ghi chép danh tính và công đức ruộng tiền của các bậc hảo tâm đóng góp tu bổ tôn tạo ngôi đình làng.
Lễ hội truyền thống Đình Giao Quang diễn ra hằng năm từ ngày mùng 9 đến ngày 11 tháng Giêng âm lịch (chính hội là ngày mùng 10 tháng Giêng). Lễ hội đã được UBND phường Tây Mỗ lập Phiếu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể năm 2025.
Ngày mùng 9 tháng Giêng: Mở cửa đình khai hội, tiến hành lễ bao sái phong quang tự viện và dâng lễ vật lễ cáo tiền nhân.
Sáng mùng 10 tháng Giêng (Chính hội): Đội tế nam quan dâng hương, đọc chúc văn tế Thành hoàng; lễ vật gồm lợn tế do hai gia đình tiêu chuẩn trong làng nuôi riêng từ năm trước.
Nghi thức rước kiệu liên làng: Đoàn rước xôi nếp, oản quả và phẩm vật từ đình sang Miếu Hàm Rồng làm lễ thỉnh mời hai vị Thành hoàng về đình dự hội.
Hội thi đồ xôi 'Cá sông Đôi, xôi Kẻ Quánh': Cuộc thi tài nấu xôi nếp cái hoa vàng giã kỹ ngâm nước giếng làng đánh phèn giữa ba giáp Đông, Đoài, Nam; giáp nào đoạt giải Nhất được vinh dự dâng cúng Thành hoàng.
Hội thi trò chơi dân gian: Tranh tài sôi nổi các môn cờ tướng, cờ người, kéo co và hội thi đấu vật thu hút các lò vật danh tiếng La Cả, Phú Đô về thi đấu.
Ngày 11 tháng Giêng: Nghi thức tế tạ, lễ đóng cửa đình và thụ lộc cộng đồng trong không khí gắn kết thắm tình làng nghĩa xóm.
Đình Giao Quang từng nằm sát bờ ao làng, đến năm 1961 mới được nhân dân đồng lòng di chuyển và phục dựng lại tại vị trí cao ráo, phong thủy khang trang như hiện nay.
Câu tục ngữ danh tiếng khắp vùng Từ Liêm 'Cá sông Đôi, xôi Kẻ Quánh' ca ngợi món xôi dẻo thơm thượng hạng của làng Giao Quang xưa, được chế biến từ gạo nếp cái hoa vàng giã xát kỹ chỉ lấy lõi nhỏ và ngâm bằng nước giếng làng đánh phèn thật trong.
Trận chiến ngày 16/6/1949 tại đình là một mốc son chói lọi khi 26 cán bộ, chiến sĩ và du kích địa phương đã kiên cường chiến đấu chống càn ác liệt và anh dũng hy sinh để bảo vệ căn cứ kháng chiến vùng Liên Bắc.
Tấm bia đá 'Các kỵ hậu bi' dựng ngày 2/3 năm Thành Thái thứ 3 (1901) là căn cứ vật chất quan trọng nhất khẳng định niên đại khởi dựng ngôi đình ít nhất từ thời Nguyễn và ghi nhận tấm lòng công đức của tiền nhân.
THƯ VIỆN SỐ VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN
Nhằm phục vụ công tác bảo tồn di sản bền vững và quảng bá du lịch văn hóa trong thời đại số, Đình Giao Quang đang từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu số hóa: lưu trữ kho hình ảnh 360°, tích hợp mã QR Code tại cổng Nghi môn để phục vụ nhân dân và du khách tra cứu lịch sử, kiến trúc, văn bia và thuyết minh tự động trên điện thoại di động, đồng thời số hóa phiên âm, dịch nghĩa đầy đủ bài ký trên bia 'Các kỵ hậu bi' (1901) và 02 đạo sắc phong triều Nguyễn. Công tác bảo tồn nguyên trạng khung gỗ lim, chống mối mọt, bảo quản di vật cổ và đẩy mạnh giáo dục truyền thống cách mạng về trận chiến ngày 16/6/1949 được triển khai thường xuyên.
THÔNG TIN THAM QUAN
Địa điểm & Thời gian
Địa chỉ: Đình Giao Quang, Tổ dân phố Quang Tiến, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội
Thời gian lễ hội: Mở cửa đón nhân dân và du khách dâng hương vào các ngày Mùng 1, ngày Rằm hằng tháng và dịp Lễ hội đầu xuân (từ mùng 9 đến mùng 11 tháng Giêng âm lịch)
Hướng dẫn tham quan
Trang phục lịch sự, kín đáo, giữ thái độ tôn nghiêm và trật tự khi vào khuôn viên di tích.
Không tự ý di chuyển, sờ hiện vật hoặc tác động lên bề mặt bia đá Các kỵ hậu bi và các đồ thờ tự cổ.
Giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ cảnh quan sân đình và mặt nước ao làng Giao Quang.
Chấp hành nghiêm túc quy định phòng cháy chữa cháy khi thắp hương và dâng lễ vật.
Khám phá số & Quản lý
Quét mã QR gắn tại cổng Nghi môn để nghe thuyết minh tự động và tra cứu tư liệu số hóa di tích.
Đơn vị quản lý: Tiểu ban Quản lý Di tích Đình Giao Quang - UBND phường Tây Mỗ