Di tích Lịch sử cấp Quốc gia (QĐ số 235-VH/QĐ) · Thờ Tham tụng Nguyễn Quý Kính
Tọa lạc tại tổ dân phố Phú Thứ, miếu bảo tồn nguyên vẹn nếp nhà cổ 3 gian 4 mái diện tích 60m² với bộ khung gỗ lim 6 cột kê trên chân tảng đá xanh cổ, cùng đôi tượng ngựa đá và đôi thạch khuyển chầu trước sân mang dấu ấn nghệ thuật thời Hậu Lê.
GIỚI THIỆU CHUNG
MIẾU NHÀ CẢNH 3 GIAN 4 MÁI CỔ KÍNHKiến trúc 3 gian 4 mái nếp nhà cổ thời Hậu Lê với ngói mũi hài rêu phong và đao mái cong vút.GIAN THỜ CHÍNH ĐIỆN VÀ Y MÔN THÊU RỒNG PHƯỢNGKhông gian thờ tự thâm nghiêm với y môn thêu rực rỡ, bàn thờ sơn son và hoành phi câu đối cổ.LONG NGAI THỜ THAM TỤNG NGUYỄN QUÝ KÍNHBộ ngai bài vị gỗ chạm rồng thế kỷ XVIII - XIX sơn son thếp vàng tôn trí di ảnh Thám hoa.LINH VẬT NGỰA ĐÁ CHẦU TRƯỚC SÂN MIẾUTượng ngựa đá linh vật tạc nguyên khối thế kỷ XVIII với yên cương chạm mây cuộn độc đáo.THẠCH KHUYỂN CỔ CANH GIỮ PHONG THỦYĐôi chó đá cổ (thạch khuyển) đeo chuông niên đại thời Lê Trung Hưng canh gác sân miếu.
Miếu Nhà Cảnh tọa lạc tại tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Đây là di tích lịch sử cấp Quốc gia thuộc quần thể di tích danh nhân dòng họ Nguyễn Quý - một cự tộc khoa bảng lẫy lừng của xứ Đoài với truyền thống 'Tam đại Thượng thư, Tam đại kế phong Vương'.
Ban đầu, nơi đây là phủ đệ riêng của Tham tụng, Thám hoa Nguyễn Quý Kính được khởi dựng vào khoảng năm 1757 - 1758. Với uy tín và đức độ kiệt xuất, phủ đệ từng nhiều lần được vua Lê và chúa Trịnh ngự giá ghé thăm đàm đạo thế sự. Năm 1762, triều đình đã đích thân ban tặng 8 chữ vàng 'Thái Sơn Bắc Đẩu - Kiều Mộc Thế Thần' để tôn vinh vị Tể tướng đứng đầu triều chính.
Sau khi Nguyễn Quý Kính tạ thế vào năm 1766, phủ đệ được con cháu dòng họ và nhân dân địa phương chuyển hóa thành miếu phụng thờ ông cùng phu nhân, lưu giữ nguyên vẹn nếp nhà cổ 3 gian 4 mái và nhiều di vật đá, gỗ vô giá thời Lê Trung Hưng.
Nhân vật thờ
Tham tụng, Thám hoa Nguyễn Quý Kính (1693 - 1766) và phu nhân
Địa chỉ
Tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Xếp hạng
Di tích Lịch sử cấp Quốc gia (Quyết định số 235-VH/QĐ năm 1986)
Niên đại
Khởi dựng khoảng năm 1757 - 1758 (thời Lê Trung Hưng)
Ban đầu, nơi đây là phủ đệ của Thám hoa Nguyễn Quý Kính, được xây dựng khoảng năm 1757 - 1758. Với vị thế đứng đầu triều chính và uy tín đặc biệt của ông, vua Lê và chúa Trịnh đã nhiều lần ngự giá ghé thăm phủ đệ.
Năm 1762, triều đình ban tặng tám chữ 'Thái Sơn Bắc Đẩu - Kiều Mộc Thế Thần' để tôn vinh tài năng, đức độ và vai trò rường cột của Nguyễn Quý Kính cùng dòng họ Nguyễn Quý.
Sau khi Nguyễn Quý Kính qua đời năm 1766, phủ đệ được chuyển thành miếu thờ ông và phu nhân. Di tích tiếp tục được cộng đồng gìn giữ, được xếp hạng Di tích Lịch sử cấp Quốc gia ngày 12/12/1986 và được thành phố đầu tư tu bổ năm 2018.
DÒNG THỜI GIAN VÀ CÁC DẤU MỐC LỊCH SỬ
1693Thám hoa Nguyễn Quý Kính sinh tại làng Đại Mỗ, là cháu đích tôn Thám hoa Nguyễn Quý Đức và con trai Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân.
1757 - 1758Khởi dựng phủ đệ làm nơi nghỉ ngơi và đàm đạo văn chương của Tể tướng Nguyễn Quý Kính khi về thăm quê hương.
1762Vua Lê Hiển Tông và chúa Trịnh ban tặng tám chữ vàng 'Thái Sơn Bắc Đẩu - Kiều Mộc Thế Thần' để tôn vinh công đức và tài năng của ông.
1766Nguyễn Quý Kính tạ thế ngày 8 tháng Chạp năm Bính Tuất; con cháu dòng họ và nhân dân chuyển phủ đệ thành miếu phụng thờ ông và phu nhân.
12/12/1986Bộ Văn hóa ban hành Quyết định số 235-VH/QĐ xếp hạng Miếu Nhà Cảnh là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia lưu niệm danh nhân.
2018Thành phố đầu tư tu bổ di tích, bảo tồn nếp nhà gỗ lim 3 gian 4 mái và hệ thống linh vật đá cổ.
Miếu Nhà Cảnh là minh chứng sống động cho cuộc đời và sự nghiệp vẻ vang của Tham tụng, Thám hoa Nguyễn Quý Kính (1693 - 1766) - vị đại thần đứng đầu bách quan suốt hơn 20 năm thời Lê Trung Hưng.
Nơi đây từng là phủ đệ đón tiếp vua Lê, chúa Trịnh ngự giá, thể hiện vị thế đặc biệt của dòng họ Nguyễn Quý trong lịch sử chính trị và văn hóa của Thăng Long - Hà Nội.
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG 3 GIAN 4 MÁI CỔ KÍNH
Ngôi miếu mang phong cách kiến trúc thời Hậu Lê với quy mô 3 gian 4 mái diện tích khoảng 60m², lợp ngói mũi hài rêu phong, 4 góc đao uốn cong thanh thoát.
Khung chịu lực bằng gỗ lim gồm 6 cột tròn kê trên chân tảng đá xanh nguyên khối cùng hệ vì kèo chồng rường vững chãi và cửa bức bàn trang nhã.
GIÁ TRỊ ĐIÊU KHẮC VÀ HỆ THỐNG LINH VẬT ĐÁ CỔ
Điểm nhấn mỹ thuật đặc sắc của di tích là cặp tượng linh vật đá nguyên khối đặt chầu trước sân miếu gồm đôi ngựa đá chạm khắc yên cương tinh xảo thế kỷ XVIII.
Bên cạnh đó là đôi chó đá (thạch khuyển) cổ đeo chuông mang đậm phong cách điêu khắc dân gian, biểu trưng cho sự tôn nghiêm và trấn trạch phong thủy.
GIÁ TRỊ VĂN TỰ VÀ TÁM CHỮ VÀNG VUA BAN
Hệ thống văn tự Hán Nôm tại miếu vô cùng quý hiếm, đặc biệt là hai bức hoành phi xà gỗ khắc nổi 8 chữ vàng 'Thái Sơn Bắc Đẩu' và 'Kiều Mộc Thế Thần' do triều đình ban tặng năm 1762.
Đồng thời, hệ thống câu đối cổ ca ngợi tài năng xuất chúng và nhân cách bậc 'Lục địa tiên' của Nguyễn Quý Kính là di sản văn hóa tinh thần vô giá.
Nguyễn Quý Kính là cháu đích tôn của Thám hoa Nguyễn Quý Đức và là con trai của Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân. Đỗ Thám hoa khoa cử cao quý, ông làm quan trải qua nhiều chức vụ trọng yếu, thăng đến chức Tham tụng (Tể tướng) đứng đầu triều chính hơn 20 năm thời Lê Trung Hưng. Ông có công lao to lớn trong việc định sách lược an dân, ổn định triều chính và bang giao. Bên cạnh tài kinh bang tế thế, ông còn là nhà thơ tài ba được người đương thời tôn xưng là bậc 'Lục địa tiên' (tiên trên mặt đất).
Vị Tể tướng đầu triều suốt 20 năm, bậc 'Lục địa tiên' tài đức vẹn toàn.
PHU NHÂN THAM TỤNG NGUYỄN QUÝ KÍNH
Phu nhân của Tham tụng Nguyễn Quý Kính là bậc nữ lưu hiền đức, người có công phụng dưỡng gia đình, giữ gìn nền nếp gia phong của cự tộc họ Nguyễn Quý và là hậu phương vững chắc cho sự nghiệp chính trị hiển hách của phu quân. Sau khi qua đời, bà được con cháu đời đời phụng thờ trang trọng bên cạnh ngai thờ của Tham tụng trong miếu.
Người bạn đời hiền thục, cùng chia sẻ sự nghiệp và gìn giữ gia phong cự tộc.
Khuôn viên tĩnh mịch với sân gạch đỏ rộng rãi, bậc tam cấp đá tảng và hệ thống cây xanh cổ kính.
Sân miếu rộng rãi và bậc tam cấp đá tảng nguyên khối
Miếu Nhà Cảnh tọa lạc trong khuôn viên khép kín thanh tịnh với sân lát gạch đỏ diện tích khoảng 170m², tạo không gian thoáng đãng để bài trí các linh vật đá và tổ chức lễ giỗ truyền thống.
Nền miếu được tôn cao so với mặt sân, dẫn lên bằng hệ thống bậc tam cấp ghép từ các phiến đá xanh nguyên khối mài nhẵn phẳng phiu, mang đậm dấu ấn kỹ thuật chế tác đá thời Lê.
Không gian cảnh quan cây xanh và tường bao cổ kính
Bao quanh sân miếu là những hàng cau, giàn trầu và bồn cây cảnh xanh tươi, tạo nên không gian thôn dã thanh bình, u tịch, hài hòa giữa công trình tưởng niệm danh nhân và cảnh quan làng quê.
KẾT CẤU NẾP NHÀ 3 GIAN 4 MÁI VÀ BỘ KHUNG GỖ LIM
Kiến trúc 3 gian 4 mái cổ kính với 6 cột gỗ lim tròn kê chân tảng đá xanh và hệ cửa bức bàn.
Nếp nhà 3 gian 4 mái và bộ khung gỗ lim chịu lực 6 cột tròn
Ngôi miếu được kết cấu 3 gian 4 mái với diện tích xây dựng khoảng 60m². Bộ khung chịu lực hoàn toàn bằng gỗ lim già nguyên khối, các cột cái và cột quân có chu vi lớn, bề mặt bào trơn láng bóng.
Tất cả 6 cột gỗ lim đều được kê cẩn trọng trên các chân tảng đá xanh nguyên khối đẽo gọt vuông vắn, vừa chống ẩm mục cho chân cột vừa tạo bệ đỡ vững chãi qua hàng trăm năm.
Hệ cửa gỗ bức bàn và ngưỡng cửa cổ truyền
Mặt tiền 3 gian được lắp hệ cửa gỗ bức bàn dạng thượng song hạ bản kín đáo, bảo vệ không gian thờ tự bên trong khỏi nắng gió mà vẫn giữ được nét trang nghiêm, thanh nhã.
Điểm đặc sắc của kiến trúc 4 mái là bốn góc đao uốn cong vút kiêu hãnh vươn lên nền trời xanh, tạo nên dáng vẻ nhẹ nhàng, thanh thoát cho toàn bộ khối công trình.
Phía dưới đao mái, các xà nách và bẩy hiên được uốn lượn nhịp nhàng, gắn kết chặt chẽ vào đầu cột lim chịu lực.
Lớp ngói mũi hài rêu phong và riềm mái gỗ lá lật
Mái miếu lợp ngói mũi hài truyền thống xếp lớp dày dặn, trải qua thời gian đã phủ lớp rêu phong cổ kính. Diềm mái được viền hàng ván gỗ đục hoa văn hình răng cưa và lá cách điệu tinh tế.
HỆ VÌ KÈO CHỒNG RƯỜNG VÀ CÂU ĐẦU THƯỢNG LƯƠNG
Kết cấu vì nóc kiểu giá chiêng chồng rường, câu đầu khắc chữ Hán ghi dấu ấn lịch sử.
Vì kèo chồng rường kênh bong chắc chắn
Bên trong miếu, các vì kèo được gia công theo kiểu giá chiêng chồng rường - con nhị cổ truyền, các con rường gối lên nhau qua các đấu vuông vững chãi.
Nghệ thuật chạm khắc trên gỗ lim tuy mộc mạc nhưng đường nét gờ chỉ chạy bén ngọt, thể hiện bàn tay tài hoa của các nghệ nhân dân gian vùng Kẻ Mỗ xưa.
Câu đầu thượng lương khắc dòng niên hiệu
Trên câu đầu nóc nhà (thượng lương), các nghệ nhân xưa đã khắc chìm dòng chữ Hán ghi nhận niên hiệu trùng tu tạo tác, là nguồn sử liệu trực tiếp khẳng định niên đại của di tích.
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Bộ sưu tập hình ảnh kiến trúc di tích
Nhấp chọn ảnh để xem kích thước lớn kèm chú thích khảo sát chi tiết.
Tại gian chính điện tôn trí 02 bộ ngai bài vị gỗ quý chạm khắc hình rồng chầu, mặt gương tròn và tay ngai đầu rồng ngậm ngọc thếp vàng. Ngai ông cao 1,20m thờ Tham tụng Nguyễn Quý Kính; ngai bà cao 1,09m thờ phu nhân. Đây là hiện vật thờ tự thiêng liêng có giá trị lịch sử và mỹ thuật đặc biệt.
ĐÔI TƯỢNG NGỰA ĐÁ LINH VẬT THẾ KỶ XVIII
Cặp tượng ngựa đá linh vật (cao 0,96m, dài 1,12m) đứng chầu đối xứng hai bên sân miếu. Tượng được tạc nguyên khối với dáng vẻ dũng mãnh, trên thân chạm khắc yên cương, dải mây cuộn và chuông lục lạc vô cùng sống động, thể hiện phong cách điêu khắc đá thời Lê Trung Hưng.
ĐÔI CHÓ ĐÁ (THẠCH KHUYỂN) CỔ CANH GIỮ PHONG THỦY
Đôi chó đá (thạch khuyển) cổ ngồi chầu trước sân miếu, đầu ngẩng cao, cổ đeo chuông lục lạc. Trong văn hóa tín ngưỡng dân gian xứ Đoài, thạch khuyển mang ý nghĩa trấn trạch, xua đuổi tà khí và bảo vệ sự bình yên, thanh tịnh cho chốn linh từ.
HOÀNH PHI XÀ GỖ 'THÁI SƠN BẮC ĐẨU' (泰山北斗)
Bức đại tự xà gỗ khắc nổi 4 chữ Hán 'Thái Sơn Bắc Đẩu' (泰山北斗) do vua Lê và chúa Trịnh đích thân ngự ban năm 1762. Bốn chữ vàng ví tài năng và nhân cách của Nguyễn Quý Kính sừng sững như núi Thái Sơn, sáng tỏ dẫn đường như sao Bắc Đẩu.
HOÀNH PHI XÀ GỖ 'KIỀU MỘC THẾ THẦN' (喬木世臣)
Bức xà gỗ khắc nổi 4 chữ Hán 'Kiều Mộc Thế Thần' (喬木世臣) nằm trong cụm 8 chữ vàng vua ban. Cụm từ ca ngợi dòng họ Nguyễn Quý như cây cao bóng cả nhiều đời làm tôi trung rường cột cho triều đình và đất nước.
ĐÔI CÂU ĐỐI GỖ LIM CỔ SƠN SON THẾP VÀNG
Đôi câu đối chữ Hán cổ treo ốp trên hai cột lim gian giữa, ca ngợi chức vị 'Quốc trụ tôn khanh' và phong thái thanh tao bậc 'Lục địa tiên' của Tham tụng Nguyễn Quý Kính, nét chữ chân phương chạm lộng đường gờ cúc dây tinh xảo.
KHUNG BẢN RẬP THƠ VĂN CA NGỢI DANH NHÂN
Khung kính bảo lưu bản rập văn tự Hán Nôm gồm các bài thơ xướng họa và bài ký ca ngợi sự nghiệp kinh bang tế thế, lòng trung trinh ái quốc và tài văn chương xuất chúng của Tham tụng Nguyễn Quý Kính.
BÁT HƯƠNG SỨ CỔ HOA LAM RỒNG CHẦU MẶT TRỜI
Bát hương sứ cổ men lam vẽ cảnh lưỡng long chầu nguyệt tinh xảo đặt trang trọng chính giữa bàn thờ trước hai ngai bài vị, là hiện vật thờ tự linh thiêng của di tích.
Khám phá thêm tư liệu và mô phỏng hiện vật
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
ĐÔI NGAI BÀI VỊ THỜ THẾ KỶ XVIII - XIX
Tại gian chính điện tôn trí 02 bộ ngai bài vị gỗ quý chạm khắc hình rồng chầu, mặt gương tròn và tay ngai đầu rồng ngậm ngọc thếp vàng. Ngai ông cao 1,20m thờ Tham tụng Nguyễn Quý Kính; ngai bà cao 1,09m thờ phu nhân. Đây là hiện vật thờ tự thiêng liêng có giá trị lịch sử và mỹ thuật đặc biệt.
Hằng năm vào ngày mùng 8 tháng Chạp âm lịch, con cháu dòng họ Nguyễn Quý và nhân dân địa phương tổ chức lễ giỗ chính của Tham tụng Nguyễn Quý Kính tại Miếu Nhà Cảnh.
Dâng hương tưởng niệm ngày giỗ chính mùng 8 tháng Chạp âm lịch.
Tế tổ theo nghi thức cổ truyền của dòng họ Nguyễn Quý.
Gặp mặt, ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của Tham tụng Nguyễn Quý Kính.
Tuyên dương khuyến học, tiếp nối truyền thống khoa bảng của dòng họ.
Năm 1762, Vua Lê và Chúa Trịnh đã đích thân ban tặng 8 chữ vàng 'Thái Sơn Bắc Đẩu - Kiều Mộc Thế Thần' để tôn vinh tài năng xuất chúng và đức độ bao la của Thám hoa Nguyễn Quý Kính.
Nguyễn Quý Kính được vua chúa và sĩ phu đương thời ca ngợi là bậc 'Lục địa tiên' (tiên trên mặt đất) bởi phong thái tao nhã, tài thơ văn lỗi lạc và tài năng chính trị kiệt xuất giữ yên triều chính suốt hơn hai thập kỷ.
Đôi ngựa đá và đôi chó đá (thạch khuyển) chầu trước sân miếu là những tác phẩm điêu khắc đá dân gian thế kỷ XVIII nguyên bản hiếm hoi còn được bảo lưu toàn vẹn trên địa bàn Hà Nội.
THƯ VIỆN SỐ VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN
Tư liệu số của Miếu Nhà Cảnh ưu tiên bức đại tự 'Thái Sơn Bắc Đẩu', gia phả Nguyễn Quý Kính, đôi thạch khuyển, đôi ngựa đá và hai ngai thờ thế kỷ XVIII - XIX. Công tác bảo tồn tiếp tục tập trung vào hệ thống linh vật đá, khung gỗ lim, mái ngói và các hiện vật thờ tự sau đợt tu bổ năm 2018.
THÔNG TIN THAM QUAN
Địa điểm & Thời gian
Địa chỉ: Tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Thời gian lễ hội: Mùng 8 tháng Chạp âm lịch hằng năm (Ngày giỗ chính của Tham tụng Nguyễn Quý Kính)
Hướng dẫn tham quan
Trang phục lịch sự, trang nghiêm khi vào khuôn viên miếu thờ danh nhân
Giữ gìn trật tự, vệ sinh chung, không tự ý di chuyển đồ thờ tự và linh vật đá cổ
Các đoàn tham quan nghiên cứu lịch sử liên hệ trước với Ban quản lý di tích hoặc đại diện dòng họ để được hướng dẫn chu đáo
Khám phá số & Quản lý
Khám phá bộ ảnh tư liệu số về kiến trúc 3 gian 4 mái, linh vật đá và hiện vật thờ tự ngay trên trang này.
Đơn vị quản lý: UBND phường Tây Mỗ và đại diện dòng họ Nguyễn Quý